(TSVN) – Ngành tôm hùm đang ghi nhận đà tăng trưởng mạnh, với kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2026 tăng 44,1% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, những hạn chế về nguồn giống, môi trường, phương thức nuôi và truy xuất nguồn gốc đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tái cơ cấu theo hướng hiện đại, bền vững.
Sáng 8/8, tại phường Nha Trang, Cục Thủy sản và Kiểm ngư phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Khánh Hòa tổ chức hội nghị “Phát triển nuôi và tiêu thụ tôm hùm bền vững”.
Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư, vùng nuôi tôm hùm hiện trải dài từ Quảng Bình đến Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó Đắk Lắk và Khánh Hòa chiếm trên 95% tổng số lồng nuôi và sản lượng tôm hùm của cả nước.
Ngành hàng đang ghi nhận đà phục hồi tích cực. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu tôm hùm đạt kỷ lục 858 triệu USD. Trong 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu đạt 11.790 tấn, trị giá 584,6 triệu USD, tăng 44,1% so với cùng kỳ năm trước. Trung Quốc tiếp tục là thị trường tiêu thụ chủ lực, chiếm 98,53% kim ngạch xuất khẩu.
Tuy nhiên, tăng trưởng nhanh cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết về tổ chức lại sản xuất, kiểm soát môi trường, chủ động nguồn giống và nâng cao khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu.
Các đại biểu tham dự Hội nghị. Ảnh: VASEP
Một trong những khó khăn lớn nhất của ngành tôm hùm hiện nay là nguồn giống. Nhu cầu cả nước khoảng 100 – 120 triệu con/năm, trong khi nguồn khai thác tự nhiên mới đáp ứng khoảng 10%.
Đối với tôm hùm bông, công nghệ sản xuất giống nhân tạo đã có những bước tiến ở quy mô nghiên cứu nhưng chưa thể nhân rộng thương mại. Trong khi đó, nguồn giống nhập khẩu chính ngạch trong 6 tháng đầu năm 2026 thiếu hụt, khiến giá giống tăng cao, dao động 45.000 – 70.000 đồng/con, làm gia tăng nguy cơ kinh doanh, vận chuyển con giống không rõ nguồn gốc.
Tại Khánh Hòa, nguồn giống tự nhiên chỉ đáp ứng khoảng 5% nhu cầu, tương đương nhu cầu 60 – 70 triệu con/năm. Trong 6 tháng đầu năm 2026, địa phương không nhập khẩu được con giống tôm hùm, khiến giá giống tăng lên 45.000 – 50.000 đồng/con đối với tôm hùm xanh và 60.000 – 65.000 đồng/con đối với tôm hùm bông.
Tham luận tại Hội nghị, ông Nguyễn Hữu Dũng, Tổng thư ký Hội Thủy sản Việt Nam cho rằng, Indonesia hiện là nguồn cung tôm hùm giống chính cho Việt Nam, song chính sách quản lý xuất khẩu của nước này liên tục thay đổi.
Theo ông Dũng, Quy định KP 7/2024 của Indonesia chỉ cho phép xuất khẩu tôm hùm sống trên 50 g và yêu cầu doanh nghiệp nước ngoài đầu tư cơ sở ươm giống tại nước sở tại. Trước thực tế này, ông đề xuất mô hình liên doanh hai giai đoạn: xây dựng cơ sở tại Indonesia để ươm tôm từ 0,2 g lên 5 g, kiểm soát chất lượng trước khi chuyển về Việt Nam dưỡng lên trên 20 g rồi cung ứng cho người nuôi.
Giải pháp này được kỳ vọng góp phần tạo nguồn giống ổn định, kiểm soát chất lượng và từng bước giảm rủi ro cho người nuôi trước những biến động về chính sách xuất khẩu giống của nước cung cấp.
Sự kiện thu hút nhiều chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp,hiệp hội tham dự. Ảnh: VASEP
Khánh Hòa hiện là một trong những vùng nuôi tôm hùm lớn nhất cả nước. Ông Nguyễn Trọng Chánh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh cho biết, tôm hùm là sản phẩm thủy sản đặc trưng, có giá trị kinh tế cao và tạo việc làm cho hàng nghìn hộ dân ven biển.
Số lượng lồng nuôi trên địa bàn tăng nhanh từ 74.443 lồng năm 2023, sản lượng 1.800 tấn, lên 126.552 lồng năm 2025, sản lượng 12.748,8 tấn. Trong 6 tháng đầu năm 2026, địa phương có 137.136 lồng, sản lượng đạt 10.270,5 tấn.
Vùng nuôi tập trung chủ yếu tại các vịnh Cam Ranh, Vân Phong, Phan Rang, Nha Trang và khu vực Ninh Hòa. Riêng vịnh Cam Ranh có 102.564 ô lồng, vịnh Vân Phong có 38.640 lồng, trong đó tôm hùm bông chiếm khoảng 70%.
Trước áp lực gia tăng quy mô, Khánh Hòa đang rà soát, đưa vùng nuôi vào quy hoạch, thực hiện giao khu vực biển và đăng ký lồng nuôi theo Luật Thủy sản năm 2017. Tỉnh đồng thời định hướng hình thành các tổ hợp tác, hợp tác xã để liên kết với doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả chuỗi giá trị.
Tại Đắk Lắk, địa phương hiện có khoảng 160.000 lồng nuôi tôm hùm trên diện tích 2.500 ha. Theo ông Nguyễn Thái Hòa, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, việc phát triển tự phát khiến mật độ nuôi cao; hơn 80% số lồng tập trung tại vùng ven bờ, làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường và dịch bệnh.
Đáng chú ý, hơn 90% sản lượng tôm hùm của tỉnh hiện được xuất khẩu thô dưới dạng tươi sống sang Trung Quốc. Ngành nuôi vẫn phụ thuộc lớn vào nguồn giống nhập khẩu, trong khi thức ăn công nghiệp chuyên dụng chưa được thương mại hóa rộng rãi và chi phí đầu tư lồng HDPE còn cao.
Đắk Lắk đang xây dựng kế hoạch tái cơ cấu, điều chỉnh quy mô xuống còn 48.000 lồng trên diện tích 1.000 ha. Tỉnh đồng thời định hướng hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp đối với các hộ nhỏ lẻ không đủ điều kiện, khuyến khích phát triển nuôi công nghệ cao xa bờ và thu hút doanh nghiệp đầu tư bài bản.
Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư, cùng với vấn đề nguồn giống, phương thức nuôi truyền thống bằng lồng bè và sử dụng thức ăn tươi sống đang tạo áp lực lớn lên môi trường, làm gia tăng nguy cơ dịch bệnh và tỷ lệ hao hụt. Tỷ lệ hao hụt trong nuôi tôm hùm hiện khoảng 30 – 35%.
Trong khi đó, thị trường nhập khẩu ngày càng yêu cầu cao về nguồn gốc và tính hợp pháp của sản phẩm, trong đó có yêu cầu chứng minh nguồn gốc hợp pháp (F2) đối với tôm hùm bông.
Trước yêu cầu này, Cục Thủy sản và Kiểm ngư định hướng ngành tôm hùm chuyển mạnh từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu; ưu tiên nhập khẩu giống chính ngạch, đẩy nhanh giao khu vực biển, cấp mã số vùng nuôi, khuyến khích chuyển đổi sang lồng HDPE, sử dụng thức ăn công nghiệp và hoàn thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc.
Tại hội nghị, TS. Mai Duy Minh, Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam chia sẻ, đơn vị đã nghiên cứu phát triển thức ăn công nghiệp cho tôm hùm xanh và tôm hùm bông. Kết quả cho thấy cả hai đối tượng đều chấp nhận 100% loại thức ăn này, chất lượng thịt ổn định.
Qua thử nghiệm trên bể, tôm hùm xanh sử dụng thức ăn công nghiệp có tốc độ tăng trưởng gần bằng khi sử dụng thức ăn tươi, ít bệnh và phát triển đồng đều. Trong thử nghiệm ngoài lồng bè, tốc độ tăng trưởng của tôm hùm xanh đạt khoảng 80% so với sử dụng cá mồi, trong khi tỷ lệ sống đạt 70% và hạn chế dịch bệnh hơn so với sử dụng cá tươi, vẹm hoặc hàu.
Một hạn chế hiện nay là viên thức ăn mới duy trì được độ bền trong nước khoảng 45 – 50 phút. Viện đang nghiên cứu nâng thời gian này lên 3 – 4 giờ, kết hợp sử dụng máy cho ăn tự động với tần suất 1 – 2 giờ/lần. Mục tiêu là từng bước thay thế một phần và tiến tới thay thế hoàn toàn thức ăn tươi trong 2 – 3 năm tới đối với tôm hùm xanh, đồng thời tiếp tục hoàn thiện kỹ thuật nuôi tôm hùm bông.
Ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư (bên phải) và ông Nguyễn Trọng Chánh, Phó Giám đốc Sở NN&MT Khánh Hòa chủ trì Hội nghị. Ảnh: Báo Dân Việt
Tại hội nghị, đại diện Khánh Hòa và Đắk Lắk đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các cơ quan Trung ương đặt hàng các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia, tập trung làm chủ công nghệ sản xuất giống nhân tạo, nghiên cứu thức ăn công nghiệp chuyên dùng, hoàn thiện quy trình nuôi trên bờ bằng hệ thống lọc nước tuần hoàn (RAS) và xử lý các bệnh phổ biến như bệnh sữa, đen mang, đốm trắng.
Hai địa phương cũng kiến nghị có cơ chế đặc thù về tài chính, tín dụng, hạ tầng hậu cần; tháo gỡ khó khăn trong nhập khẩu giống chính ngạch và tăng cường xúc tiến, mở rộng thị trường tiêu thụ.
Chủ trì Hội nghị, ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư nhấn mạnh, tôm hùm là đối tượng nuôi chủ lực trong chiến lược phát triển nuôi biển quốc gia. Ngành hướng tới duy trì tăng trưởng giá trị sản xuất 8%/năm và đóng góp khoảng 15% kim ngạch xuất khẩu thủy sản vào năm 2030.
Để hiện thực hóa mục tiêu trên, ngành thủy sản xác định, khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo là động lực; đồng thời quản lý vùng nuôi theo đúng sức tải môi trường, nhân rộng mô hình hợp tác xã liên kết chuỗi giá trị và lấy chất lượng, an toàn thực phẩm, khả năng truy xuất nguồn gốc làm nền tảng.
Nguyệt An