(TSVN) – Hiện nay, “xanh hóa” dần trở thành thước đo năng lực cạnh tranh của ngành thủy sản. Trong bối cảnh đó, hệ thống khuyến nông không chỉ đóng vai trò hỗ trợ kỹ thuật mà còn là động lực để “kiến tạo giá trị xanh”, định hình một nền sản xuất hiện đại và bền vững.
Trao đổi với Tạp chí Thủy sản Việt Nam, ông Hoàng Văn Hồng – Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đã chia sẻ những định hướng trọng tâm của khuyến nông thủy sản trong kỷ nguyên xanh.
Ông Hoàng Văn Hồng: Năm 2025, ngành thủy sản chịu tác động kép từ thiên tai khắc nghiệt tại miền Bắc, miền Trung và dịch bệnh phức tạp trên tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Trong bối cảnh đó, hệ thống khuyến nông đã khẳng định vai trò điểm tựa thông qua những hành động thực tiễn và quyết liệt.
Không chỉ dừng lại ở công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng mà Trung tâm Khuyến nông Quốc gia còn đi sâu vào hỗ trợ kỹ thuật trực tiếp. Các buổi tọa đàm thực địa được tổ chức ngay tại ao nuôi với sự tham gia của chuyên gia và doanh nghiệp, giúp giải quyết “nóng” các vấn đề phát sinh. Đặc biệt, việc hỗ trợ kịp thời vật tư, men vi sinh xử lý môi trường và tăng cường sức đề kháng cho vật nuôi đã trở thành giải pháp kỹ thuật then chốt, giúp bà con giảm thiểu thiệt hại và nhanh chóng khôi phục sản xuất.
Về chiều sâu chiến lược, Trung tâm đã chỉ đạo hệ thống khuyến nông cơ sở và cộng đồng đẩy mạnh chuyển giao tiến bộ kỹ thuật. Các mô hình tiên tiến như nuôi tôm công nghệ Grofarm, quy trình 2 – 3 giai đoạn, lồng nuôi HDPE trên biển, trên sông hồ hay ứng dụng công nghệ số trong khai thác… được đưa vào thực tiễn thông qua các lớp tập huấn bài bản. Chính sự kết hợp giữa ứng phó linh hoạt và nền tảng kỹ thuật vững chắc này đã giúp người dân làm chủ quy trình, đóng góp quan trọng vào thành công chung của ngành thủy sản năm 2025.
Ông Hoàng Văn Hồng: Nhìn lại chặng đường vừa qua, các chương trình khuyến nông đã tạo ra những tác động toàn diện, làm thay đổi căn bản diện mạo nghề nuôi trồng thủy sản.
Tác động rõ nét nhất là sự chuyển dịch mạnh mẽ về tư duy sản xuất. Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đã hỗ trợ người dân từ bỏ thói quen canh tác nhỏ lẻ, manh mún để chuyển sang phương thức nuôi thâm canh, tuân thủ quy trình an toàn sinh học và ứng dụng công nghệ cao. Những mô hình tiên tiến như nuôi tôm 2 – 3 giai đoạn, nuôi biển lồng HDPE hay ứng dụng IoT tự động hóa đã giúp người nuôi chủ động kiểm soát rủi ro và thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu.
Sự thay đổi này dẫn đến hiệu quả kinh tế vượt trội. Nhờ chuẩn hóa quy trình và tối ưu chi phí đầu vào, các mô hình khuyến nông thường đạt lợi nhuận cao hơn từ 15 – 40% so với phương thức truyền thống. Người nuôi giờ đây đã thấm nhuần tư duy “nuôi hiệu quả hơn” thay vì chỉ cố gắng “nuôi nhiều hơn”, hướng tới sản xuất hàng hóa gắn liền với nhu cầu thị trường.
Bên cạnh lợi ích kinh tế, năng lực của người sản xuất cũng được nâng lên tầm cao mới. Thông qua phương pháp đào tạo “cầm tay chỉ việc” ngay tại mô hình, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đã góp phần hình thành thế hệ “nông dân chuyên nghiệp”. Họ không còn thụ động trông chờ mà đã làm chủ kiến thức về truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và sẵn sàng chuyển đổi số.
Không chỉ vậy, các chương trình này còn giải quyết tốt bài toán phát triển bền vững. Các mô hình nuôi tuần hoàn nước, giảm phát thải không chỉ hướng tới một nền thủy sản xanh mà còn kiến tạo các vùng nguyên liệu ổn định, tạo việc làm và đảm bảo an sinh xã hội cho cộng đồng cư dân ven biển.
DẤU ẤN HIỆU QUẢ TỪ CÁC MÔ HÌNH KHUYẾN NÔNG
Ông Hoàng Văn Hồng: Thực hiện phương châm “Ở đâu có nông dân, ở đó có khuyến nông”, công tác khuyến nông thủy sản thời gian qua đã có những bước chuyển mình mang tính chiến lược, thay đổi toàn diện cả về “lượng” và “chất”.
Điểm nhấn đầu tiên là sự đổi mới căn bản trong tiếp cận mô hình. Thay vì dàn trải các mô hình trình diễn đơn lẻ, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia tập trung kiến tạo các vùng nguyên liệu quy mô lớn, tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị khép kín. Sự gắn kết hữu cơ giữa “Nhà nước – Nhà khoa học – Doanh nghiệp – Nhà nông“ giúp giải quyết bài toán đầu ra bền vững, thay vì để người dân “tự bơi“ trong cơ chế thị trường.
Kế đến là cuộc cách mạng về phương thức hỗ trợ thông qua chuyển đổi số. Bên cạnh phương pháp truyền thống “cầm tay chỉ việc”, khuyến nông hiện đại đã tích hợp sâu rộng công nghệ 4.0. Việc ứng dụng IoT, nhật ký điện tử và hệ thống giám sát môi trường giúp chuyển dịch tư duy từ “tăng sản lượng” sang “tối ưu hóa chi phí và bảo vệ môi trường”. Đây là chìa khóa để ngành thủy sản thích ứng chủ động với biến đổi khí hậu.
Cuối cùng là xã hội hóa nguồn lực và phát huy vai trò cộng đồng. Hoạt động khuyến nông không còn là nhiệm vụ đơn tuyến của nhà nước mà đã trở thành sự nghiệp chung của toàn xã hội. Đặc biệt, mô hình Tổ khuyến nông cộng đồng đang phát huy hiệu quả tích cực, trở thành “cánh tay nối dài” bám sát thực tiễn, hỗ trợ thường xuyên và trực tiếp cho bà con ngay tại cơ sở.
Khuyến nông luôn đồng hành cùng người nông dân với phương châm: Ở đâu có nông dân, ở đó có khuyến nông
Ông Hoàng Văn Hồng: Năm 2026 là năm khởi động kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế của cả nước 2026 – 2030, trong bối cảnh ngành thủy sản đứng trước yêu cầu cấp bách về phát triển xanh, bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu và hội nhập thị trường quốc tế sâu rộng, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia xác định hoạt động khuyến nông luôn “bám sát thực tiễn sản xuất tại cơ sở”, “đồng hành cùng bà con nông dân”, bám sát Chiến lược phát triển khuyến nông giai đoạn 2026 – 2030 và Chiến lược phát triển thủy sản đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Bao gồm:
Thứ nhất: Chuyển đổi mạnh mẽ tư duy và đổi mới cách tiếp cận khuyến nông. Trung tâm sẽ đẩy mạnh hoạt động theo hướng kết nối chuỗi giá trị, gắn kết hữu cơ giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp, tổ chức khoa học và thị trường.
Thứ hai: Tập trung phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng xanh, sinh thái và tuần hoàn. Hoạt động khuyến nông sẽ ưu tiên xây dựng và nhân rộng các mô hình ứng dụng công nghệ cao, quy trình tiết kiệm nước, tối ưu hóa dinh dưỡng và giảm phát thải. Đây là giải pháp để nâng cao khả năng chống chịu trước thiên tai và biến đổi khí hậu.
Thứ ba: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khuyến nông về thủy sản. Trong giai đoạn mới, cán bộ khuyến nông không chỉ giỏi kỹ thuật chuyên môn mà phải có năng lực tư vấn tổ chức sản xuất, chuyển đổi số và phát triển kinh tế hợp tác để đồng hành lâu dài cùng người sản xuất.
Thứ tư: Thúc đẩy mạnh mẽ mô hình hợp tác công – tư (PPP) trong hoạt động khuyến nông. Trung tâm Khuyến nông Quốc gia sẽ chú trọng huy động nguồn lực xã hội hóa để nhân rộng các quy trình sản xuất tiên tiến, đặc biệt là trong lĩnh vực nuôi biển và nuôi tôm tại các khu vực ven biển.
Thứ năm: Củng cố hệ thống khuyến nông cơ sở, đặc biệt là phát huy vai trò của đội ngũ khuyến nông cộng đồng và khuyến nông cấp xã khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Đây là lực lượng “gần dân nhất, sát dân nhất”, am hiểu thực tiễn để tổ chức sản xuất hiệu quả tại địa phương.
Phát huy truyền thống và thành tựu hơn 30 năm xây dựng và trưởng thành, với tinh thần trách nhiệm và quyết tâm cao, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cam kết sẽ tiếp tục xây dựng hệ thống ngày càng phát triển vững mạnh, tiếp tục là người bạn tin cậy đồng hành cùng bà con nông dân trong ngành thủy sản nói riêng, nông nghiệp và môi trường nói chung, thực hiện thắng lợi sứ mệnh của mình trong giai đoạn mới.
Trân trọng cảm ơn ông!
Khánh Nguyễn – Sao Mai
(Thực hiện)