Cậu châm điếu thuốc rồi ngồi bất động. Trong đêm chỉ còn tiếng rít khe khẽ của cậu hòa lẫn tiếng thút thít của mợ, mỗi lúc một thưa dần. Rồi như không kìm được cơn tức tưởi, mợ quay sang, giọng bật lên: – Chứ ông tính để vậy hoài sao? Tiền đâu trả […]
Cậu châm điếu thuốc rồi ngồi bất động. Trong đêm chỉ còn tiếng rít khe khẽ của cậu hòa lẫn tiếng thút thít của mợ, mỗi lúc một thưa dần. Rồi như không kìm được cơn tức tưởi, mợ quay sang, giọng bật lên:
– Chứ ông tính để vậy hoài sao? Tiền đâu trả chủ vườn, tiền đâu trả lái? Tết nhất tới nơi rồi đó!
Mợ vừa nói vừa đấm thùm thụp vào lưng cậu, như thể cậu là người gây ra tất cả. Cậu nghiêng người tránh, môi mấp máy muốn nói gì đó rồi lại im lặng. Tiếng thở dài bị nén sâu vào lồng ngực, để mặc đêm buông xuống nặng trĩu.
Mới mấy hôm trước thôi, vườn cúc của cậu còn rực vàng, thẳng tắp theo từng luống. Vậy mà giờ đây tan hoang: cành gãy, chậu đổ, đất nứt toác. Mấy trăm chậu cúc giờ chưa đến trăm chậu còn nguyên, mà cây cũng xấu đi nhiều. Miền Trung vừa gánh liền hai cơn bão, quê tôi có nơi còn nằm trọn trong tâm bão. Người còn lo chưa xong, huống hồ chi là vườn bông.
– Thôi thì của đi thay người… – cậu chép miệng, xoa đầu tôi, giọng nhẹ tênh. Nhưng tôi biết, trong lòng cậu đang rối bời.
Cậu tôi nối nghiệp nhà ngoại từ thuở còn trẻ, sống bằng nghề trồng cúc và tắc bán Tết. Mỗi năm, trước Tết vài tháng, tôi lại theo cậu ra vườn gieo cúc. Cậu tỉ mẩn chỉ tôi cách chọn cây con: cây nào khỏe, cây nào yếu; lỡ mua trúng lô không đều thì phải phân loại, cây cao thấp, rễ mạnh yếu trồng riêng, để chúng không tranh nhau mà chết dần.
Tôi thích nhìn cậu chăm vườn. Từ lúc tưới nhẹ luống đất đã chuẩn bị sẵn, đến khi dùng dầm nhỏ trồng cây, rồi dặn dò:
– Trồng xong nhớ ấn chặt gốc, phủ rơm mềm hoặc mùn rác lên cho giữ nước.
Những chậu cúc cứ thế lớn dần, tạo thành khu vườn vàng rực. Trước Tết non tháng, tôi trở lại, ngỡ ngàng khi những luống cúc bé xíu ngày nào đã cao ngang vai. Cậu tách chúng ra từng chậu, dùng que nhỏ định hình, hoa bung nở mát mắt.
Gần Tết, vườn cậu lúc nào cũng rộn ràng. Các dì ra tạo cành, tưới nước, bón phân. Khách đến xem hoa, chủ vườn ghé đặt trước, lái buôn cũng tấp nập, đặt cọc nửa tiền để giữ hàng. Gương mặt ai cũng hớn hở. Thấy tôi lững thững đi dạo, cậu cười trêu:
Chộp vài pô đăng lên phây-bút cho nóng, cho người ta biết mà tới ủng hộ vườn cậu.
Vậy mà bão đến, không chừa một ai. Hai cơn bão liên tiếp trong vòng một tuần cuốn phăng tất cả, khi Tết đã cận kề. Cậu sững người mất cả ngày, rồi lại gượng dậy, cùng cả nhà lao vào “cứu cây”. Nhà ngoại chia làm hai: một nửa dọn dẹp chậu vỡ, kiểm tra cây còn sót lại; nửa kia tỉa tót, chăm sóc những cây còn hy vọng.
Gần như quá nửa đã mất trắng, nhưng cậu vẫn động viên:
– Còn nước còn tát. Cố làm cho mấy cây còn lại cho đàng hoàng, bán cho người ta cũng phải có tâm.
Dẫu cố gắng, số cây giao cho chủ vườn và lái vẫn không đủ. Mất sạch tiền vốn. Người ta thông cảm, cậu chỉ cười hiền:
– May là không mất cái tiếng. Nẫu hiểu do thiên tai, năm sau người ta lại đặt.
Còn lại vài chục chậu, cậu mợ đem ra chợ bán rẻ mấy ngày giáp Tết. Hoa không còn đẹp như ban đầu, nhưng người gặp nạn thương nhau, cũng bán được chút ít lo bánh kẹo. Chỉ còn lại đúng hai chậu, cậu giữ lại chưng trong nhà.
Tết năm ấy không đủ đầy như mọi năm, nhưng đêm giao thừa, cậu vẫn gọi tôi vào, dúi phong bao lì xì vào tay. Tôi lắc đầu, muốn cậu giữ lại mà trang trải, nhưng cậu bế thốc tôi vào lòng, giọng trầm ấm:
– Trong đời, ai cũng có lúc gặp khó khăn. Quan trọng là phải bình tĩnh mà đối diện. Có buồn cũng không giải quyết được gì, chi bằng cố lạc quan, tìm cách. Dù không vẹn toàn, nhưng ít ra mình không hối hận vì đã không thử. Nghĩ kỹ coi, cậu đâu chỉ mất, mà cũng học được nhiều điều đó chứ.
Ngoài sân, gió Xuân se lạnh. Trong nhà, nồi bánh chưng sôi lục bục. Tôi thấy lòng mình ấm lạ. Giữa cái Tết chông chênh ấy, tôi hiểu rằng mình vừa nhận được từ cậu một món lì xì vô giá.
Biện Bạch Ngọc