(TSVN) – Dự án Đối tác chuỗi giá trị nuôi trồng thủy sản Hoa Kỳ – Việt Nam (FAST-V) được kỳ vọng tạo động lực phát triển ngành hàng cá rô phi theo hướng hiện đại, bền vững và hội nhập quốc tế.
Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đang xây dựng Dự thảo Dự án Đối tác chuỗi giá trị nuôi trồng thủy sản Hoa Kỳ – Việt Nam (FAST-V), do Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) tài trợ. Dự án có tổng kinh phí hơn 15,6 triệu USD, bao gồm nguồn vốn ODA không hoàn lại của USDA cùng nguồn vốn đối ứng từ các đối tác tham gia, hướng tới thúc đẩy phát triển ngành hàng cá rô phi theo chuỗi giá trị hiện đại, nâng cao khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Mới đây, tại thành phố Cần Thơ, Cục Thủy sản và Kiểm ngư tổ chức hội thảo tham vấn ý kiến các hợp tác xã, doanh nghiệp, cơ quan quản lý của các tỉnh, thành phố khu vực Đồng bằng sông Cửu Long dự kiến tham gia dự án. Sau hội thảo này, cơ quan chủ trì sẽ tiếp tục lấy ý kiến tại các địa phương thuộc Đồng bằng sông Hồng để hoàn thiện dự thảo trước khi trình cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt.
Theo dự thảo, FAST-V được triển khai trong giai đoạn 2026-2030, với mục tiêu cải thiện toàn diện chuỗi giá trị cá rô phi tại Việt Nam, đồng thời thúc đẩy thương mại thức ăn chăn nuôi từ đậu nành và các sản phẩm cá rô phi. Dự án đặt mục tiêu đạt sản lượng thương mại cá rô phi tích lũy khoảng 1,21 triệu tấn, tạo doanh thu khoảng 1,25 tỷ USD trong giai đoạn thực hiện.
Có 9 tỉnh, thành phố thuộc hai vùng sản xuất cá rô phi trọng điểm của cả nước được lựa chọn tham gia dự án, gồm Hải Phòng, Hưng Yên, Ninh Bình, Thanh Hóa, An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long và Cà Mau. Trong đó, An Giang và Cần Thơ là hai địa phương đạt điểm đánh giá cao nhất nhờ đáp ứng đồng thời các tiêu chí về năng lực sản xuất, phát triển chuỗi giá trị và khả năng triển khai dự án.
Ảnh minh họa. Nguồn: ST
Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư Nhữ Văn Cẩn cho biết, việc xây dựng FAST-V có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh ngành cá rô phi Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội phát triển. Đây là đối tượng nuôi có tốc độ tăng trưởng nhanh trên thế giới, hiện được nuôi tại hơn 140 quốc gia và vùng lãnh thổ với sản lượng từ 7-7,3 triệu tấn mỗi năm.
Tại Việt Nam, giai đoạn 2015-2025, sản lượng cá rô phi tăng từ 188 nghìn tấn lên khoảng 420 nghìn tấn. Riêng năm 2025, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 99 triệu USD, trong đó xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ đạt trên 53 triệu USD.
Bên cạnh đó, ngành hàng đã hình thành nền tảng sản xuất khá đồng bộ với 303 cơ sở sản xuất giống, 178 cơ sở ương dưỡng, 77 nhà máy sản xuất thức ăn và khoảng 510 cơ sở chế biến đủ điều kiện xuất khẩu. Đây được xem là tiền đề thuận lợi để phát triển ngành cá rô phi theo hướng quy mô lớn, hiện đại và đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế.
Tuy nhiên, theo ông Cẩn, kết quả khảo sát tại nhiều địa phương cho thấy ngành hàng vẫn tồn tại nhiều “điểm nghẽn” cần sớm được tháo gỡ. Trước hết, nguồn giống chất lượng cao trong nước mới chỉ đáp ứng dưới 20-30% nhu cầu sản xuất. Trong khi đó, hoạt động nuôi còn phân tán, chưa hình thành các vùng nguyên liệu tập trung gắn với chế biến và xuất khẩu, khiến liên kết chuỗi giá trị còn lỏng lẻo.
Ngoài ra, chi phí sản xuất còn ở mức cao, mức độ cơ giới hóa, ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Một số địa phương cũng chưa có chiến lược tổng thể và cơ chế đủ mạnh để thúc đẩy sự liên kết đồng bộ từ sản xuất giống, thức ăn, nuôi thương phẩm đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
Theo đánh giá của USDA trong khuôn khổ Chương trình Thực phẩm vì sự tiến bộ, nếu khắc phục hiệu quả những hạn chế trên, ngành hàng cá rô phi Việt Nam hoàn toàn có khả năng đạt doanh thu trên 1 tỷ USD trong thời gian tới.
Tại hội thảo, các hợp tác xã, doanh nghiệp và cơ quan quản lý địa phương đã đóng góp nhiều ý kiến nhằm hoàn thiện dự thảo dự án. Các đại biểu đề xuất tập trung đầu tư phát triển nguồn giống chất lượng cao; tăng cường ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số và truy xuất nguồn gốc; xây dựng vùng nguyên liệu tập trung; thúc đẩy liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ; đồng thời mở rộng thị trường xuất khẩu theo hướng bền vững.
Nhiều ý kiến cũng kiến nghị cần xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, địa phương, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và các đối tác quốc tế nhằm bảo đảm dự án được triển khai đồng bộ, phát huy hiệu quả nguồn vốn tài trợ và có khả năng nhân rộng sau khi kết thúc.
Theo dự kiến, FAST-V sẽ mang lại lợi ích trực tiếp cho hơn 25.000 người và gián tiếp cho trên 160.000 người thông qua các hoạt động hỗ trợ nâng cao năng lực sản xuất, phát triển chuỗi giá trị, tăng cường liên kết thị trường và cải thiện sinh kế cho người dân tại các vùng nuôi cá rô phi trọng điểm.
Nguyệt An