T2, 02/02/2026 02:33

Nuôi tôm không có đường tắt

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Chúng tôi gặp bà Phan Bảo Trân tại Farm thực nghiệm Trân An Phú trong một buổi trò chuyện ngắn xoay quanh nghề nuôi tôm – nghề mà bà đã gắn bó gần trọn thanh xuân. Câu chuyện không khởi đầu bằng những thông số kỹ thuật hay năng suất, mà bắt đầu từ những ký ức rất đời của một người lớn lên cùng những vuông tôm. Với bà Trân, nuôi tôm không chỉ là một vụ sản xuất, mà là bài toán dài hạn về môi trường, sức khỏe con tôm và sinh kế bền vững của người nuôi.

Phóng viên: Bà có thể kể lại ký ức đầu tiên gắn với nghề nuôi tôm của gia đình mình không? Gia đình ảnh hưởng như thế nào đến quyết định theo nghề của bà?

Bà Phan Bảo Trân: Gia đình tôi bắt đầu gắn bó với nghề nuôi tôm từ năm 1992. Khi ấy, tôi vẫn còn là học sinh cấp II, khoảng lớp 7 – lớp 8. Ngày nghe ba mẹ bàn chuyện đào ao nuôi tôm sú, tôi còn mơ hồ, thậm chí chưa hình dung được “con sú” trông như thế nào. Chỉ đến khi vụ tôm đầu tiên thu hoạch, tận tay bắt những con tôm to hơn nửa cổ tay, niềm say mê với nghề nuôi tôm mới thực sự hình thành.

Thời điểm đó, tôm sú có giá rất cao, trên 170.000 đồng/kg, trong khi một chỉ vàng chỉ khoảng 430.000 đồng. Như vậy, bán chưa tới 3 kg tôm đã có thể mua được một chỉ vàng. Với một đứa trẻ lớn lên ở vùng quê, chứng kiến nghề nuôi tôm mang lại nguồn thu nhập đáng kể như vậy, tôi sớm hình thành suy nghĩ sẽ gắn bó lâu dài với nghề này.

Người có ảnh hưởng lớn nhất đến con đường tôi lựa chọn chính là ba và anh trai. Ba là người trực tiếp gắn bó với ao đầm, còn anh trai tôi theo học ngành thủy sản tại Đại học Cần Thơ, sau đó công tác trong lĩnh vực khuyến nông tại huyện Vĩnh Châu. Chính anh là người định hướng cho tôi theo học trung cấp thủy sản, đồng thời cùng gia đình mở một cửa hàng nhỏ cung cấp thức ăn và thuốc thủy sản, vừa phục vụ ao nuôi của gia đình, vừa hỗ trợ bà con xung quanh từ năm 2003.

Đến năm 2012, tôi chính thức thành lập Công ty TNHH Trân An Phú, với mong muốn mang đến cho người nuôi tôm những giải pháp kỹ thuật và sản phẩm chất lượng, góp phần giúp bà con có thêm nhiều vụ nuôi thành công, bền vững.

Phóng viên: Theo bà, môi trường sống và điều kiện tự nhiên của miền Tây ảnh hưởng thế nào đến cách làm nghề nuôi tôm?

Bà Phan Bảo Trân: Miền Tây được thiên nhiên ưu đãi hơn nhiều vùng khác. Khí hậu tương đối ổn định, không khắc nghiệt như miền Trung hay miền Bắc, nguồn nước giàu dinh dưỡng, rất phù hợp cho nuôi trồng thủy sản.

Những năm đầu, ít người nuôi và bà con còn nuôi mật độ thưa, ít sử dụng hóa chất nên tỷ lệ thành công rất cao, cứ thả tôm là có thu hoạch. Tuy nhiên, khi diện tích và mật độ nuôi tăng lên, việc sử dụng hóa chất nhiều hơn đã tạo áp lực lớn lên môi trường và dịch bệnh bắt đầu phát sinh.

Phóng viên: Trong giai đoạn chuyển đổi từ tôm sú sang tôm thẻ, khó khăn lớn nhất bà gặp phải là gì?

Bà Phan Bảo Trân: Có thể nói, giai đoạn đầu nuôi tôm thẻ chân trắng sẽ phải đối mặt 03 thách thức: Kỹ thuật, tâm lý và thị trường.

Năm 2006, tôi bắt đầu thử nghiệm nuôi tôm thẻ trong bối cảnh kiến thức kỹ thuật về đối tượng này còn rất hạn chế. Khi đó, người nuôi hầu như chưa có tài liệu hướng dẫn bài bản, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền miệng và quan sát thực tế. Thức ăn sử dụng khá đơn giản, chủ yếu là bột cá, bột mì; cách nuôi gần giống với con tép đất hơn là nuôi tôm công nghiệp như sau này.

Về mặt tâm lý, người nuôi luôn trong trạng thái dè dặt và thận trọng. Thời điểm ấy, hành lang pháp lý cho nuôi tôm thẻ chưa thật sự rõ ràng, khiến nhiều hộ vừa làm vừa lo, không dám đầu tư lớn. Trong khi đó, thị trường tiêu thụ cũng chưa hình thành, đầu ra bấp bênh, sản phẩm gần như chưa có cơ hội tham gia xuất khẩu.

Khi đến kỳ thu hoạch, mỗi ngày tôi chỉ bán khoảng 100 kg cho thương lái tại chợ. Tôm có kích cỡ nhỏ, khoảng 120 con/kg (gần tương đương tép đất) với giá 58.000 đồng/kg. Tuy nhiên, nhờ chi phí đầu tư thấp, mức lãi đạt gần 40.000 đồng/kg.

Tôi khi ấy nghĩ rất đơn giản, con gì nuôi có lời thì mình thử. Vừa nuôi, vừa học, vừa rút kinh nghiệm, qua từng vụ nuôi mà dần hiểu con tôm hơn.

Phóng viên: Theo bà, yếu tố nào quyết định thành bại khi nuôi tôm thẻ, đặc biệt ở vùng nước lợ độ mặn thấp?

Bà Phan Bảo Trân: Yếu tố then chốt vẫn là kỹ thuật và mật độ nuôi. Ở vùng nước lợ độ mặn thấp, nếu ham nuôi mật độ cao thì rất dễ thất bại.

Nước lợ thiếu khoáng tự nhiên, tôm lột vỏ dễ bị mềm. Đặc biệt, khí độc NO₂ trong điều kiện độ mặn thấp rất nguy hiểm, có thể gây chết tôm hàng loạt. Nếu nuôi mật độ cao, chi phí bổ sung khoáng sẽ rất lớn mà hiệu quả vẫn không thể so với vùng nước mặn tự nhiên.

Phóng viên: Hiện nay bà đang nuôi với mật độ và cách quản lý như thế nào?

Bà Phan Bảo Trân: Ở giai đoạn ương dưới 30 ngày tuổi, tôi thả mật độ khoảng 300 con/m² để sang tôm. Sau đó, mật độ được điều chỉnh giảm dần theo từng giai đoạn sinh trưởng, giai đoạn 2 duy trì khoảng 150 con/m²; khi tôm lớn, mật độ còn 80 – 100 con/m². Riêng với mô hình nuôi tôm cỡ lớn, mật độ chỉ giữ ở mức khoảng 60 con/m².

Do độ mặn tại khu vực nuôi chỉ dao động từ 4 – 5‰, việc duy trì mật độ cao trong thời gian dài là không phù hợp. Thức ăn được cho ở mức vừa đủ, tuyệt đối không để dư thừa. Trước mỗi cữ cho ăn, tôi đều tiến hành ủ men vi sinh nhằm tăng khả năng hấp thu dinh dưỡng, đồng thời giảm áp lực cho đường ruột của tôm.

Công tác quản lý nước ao được thực hiện thông qua việc bổ sung vi sinh định kỳ, trong đó đặc biệt chú trọng các dòng vi sinh có khả năng ức chế vi khuẩn Vibrio, giúp ổn định hệ vi sinh đường ruột và bảo vệ gan tụy. Tại Farm Trân An Phú, tôi ưu tiên sử dụng các giải pháp có nguồn gốc thảo dược như Liver Robust và Agarlic, được bào chế từ những cây thuốc nam quen thuộc như xuyên tâm liên, diệp hạ châu, cỏ mực, kế sữa, hoàng đằng… kết hợp với các hoạt chất kháng khuẩn tự nhiên từ tỏi, nghệ, gừng, riềng.

Theo tôi, thảo dược không nhằm mục đích thay thế kháng sinh để trị bệnh cho tôm, mà đóng vai trò hỗ trợ gan khỏe, ức chế nấm và vi khuẩn có hại, giúp đường ruột ổn định và tăng sức đề kháng tự nhiên. Khi môi trường ao nuôi được kiểm soát tốt, hệ vi sinh cân bằng, tôm sẽ khỏe lên từ bên trong, qua đó nâng cao hiệu quả sản xuất.

Thực tế cho thấy, mô hình này giúp năng suất tăng hơn 30%, từ khoảng 2 tấn lên 3 tấn trên mỗi 1.000 m³ nước; thời gian nuôi rút ngắn khoảng 15 ngày; lợi nhuận tăng khoảng 25% nhờ giảm chi phí kháng sinh và hạn chế tình trạng tôm chậm lớn.

Phóng viên: Sau nhiều vụ nuôi, bà đánh giá hiệu quả mô hình hiện tại ra sao?

Bà Phan Bảo Trân: Tỷ lệ sống đạt khoảng 80%. Tốc độ tăng trưởng ở mức trung bình –khá. Vụ gần nhất nuôi 112 ngày đạt size 24 con/kg. Chi phí sản xuất khoảng 105.000 đồng/kg.

Nuôi tôm ở vùng nước lợ chi phí thường cao hơn vùng nước mặn do phải bổ sung lượng khoáng nhiều hơn và do quy trình tuần hoàn tái sử dụng nước nên lượng vi sinh sử dụng cũng nhiều hơn. Nhưng đổi lại là sự an toàn và ổn định trên chính mảnh đất của mình.

Phóng viên: Người nuôi cần lưu ý điều gì khi muốn áp dụng mô hình của bà?

Bà Phan Bảo Trân: Theo tôi, điều quan trọng nhất đối với người nuôi tôm là không nên sao chép máy móc một mô hình đã thành công ở nơi khác rồi áp dụng nguyên xi cho ao nuôi của mình. Mỗi vùng đất, mỗi ao nuôi, mỗi nguồn nước đều mang những đặc thù riêng; cùng một quy trình kỹ thuật nhưng có thể phát huy hiệu quả ở nơi này, song lại không phù hợp ở nơi khác.

Người nuôi cần thực sự “ăn ngủ với con tôm”, dành thời gian quan sát, theo dõi và thấu hiểu ao nuôi cũng như điều kiện tự nhiên của chính mình. Việc học hỏi là cần thiết, song phải đi kèm với sự chọn lọc và linh hoạt. Không chỉ học từ những mô hình thành công, người nuôi còn cần nhìn vào cả những thất bại để rút kinh nghiệm, từ đó hiểu rõ điều gì nên làm và điều gì cần tránh, nhằm xây dựng hướng nuôi phù hợp và bền vững cho chính mình.

Phóng viên: Với những người nuôi tôm đang gặp khó khăn vì dịch bệnh, chi phí và thị trường, bà muốn gửi gắm điều gì?

Bà Phan Bảo Trân: Trong bối cảnh dịch bệnh phức tạp và chi phí ngày càng tăng, người nuôi không nên quá lệ thuộc vào kháng sinh. Thay vào đó, cần chú trọng quản lý môi trường nước một cách chặt chẽ, từ pH, khí độc cho đến mật độ vi khuẩn trong ao nuôi. Thực tế cho thấy, phòng bệnh luôn là giải pháp ít tốn kém và hiệu quả hơn rất nhiều so với việc xử lý khi tôm đã phát bệnh.

Khi tôm gặp vấn đề sức khỏe, nếu xử lý thiếu kiểm soát, sử dụng thuốc một cách dàn trải thì dù tôm có qua được bệnh, tốc độ sinh trưởng cũng khó đạt như mong muốn. Do đó, chi phí sản xuất cao hay thấp không chỉ phụ thuộc vào giá đầu vào, mà còn gắn chặt với trình độ kỹ thuật và khả năng quản lý ao nuôi của từng người.

Phóng viên: Nếu được nói một câu với thế hệ người nuôi tôm trẻ, bà sẽ nói gì?

Bà Phan Bảo Trân: Nghề nuôi tôm không có đường tắt. Người nuôi muốn đi đường dài thì bắt buộc phải học hỏi không ngừng, từ sách vở, từ thực tế ao nuôi và từ chính những thất bại của mình. Quan trọng hơn là phải biết chọn lọc cái đúng, không chạy theo phong trào hay mô hình “thần tốc”. Khi đã chọn được hướng đi phù hợp thì phải kiên trì làm tới cùng, nuôi tôm bằng hiểu biết và trách nhiệm. Có như vậy, thành công mới đến một cách bền vững, chứ không phải nhờ may mắn nhất thời.

Trân trọng cảm ơn bà!

Lan Khuê

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài
error: Content is protected !!