(TSVN) – Chiến sự xảy ra ở Trung Đông chỉ mới diễn ra hơn 1 tháng, nhưng tác động tiêu cực đến kinh tế toàn cầu là rất lớn cho toàn cầu. Và trong bức tranh toàn cảnh ấy, thủy sản nói chung và ngành tôm nói riêng đang phải hứng chịu một áp lực được cho là quá lớn khi hàng loạt chi phí trong chuỗi giá trị con tôm đều tăng mạnh, đặc biệt là chi phí logictics.
Chiến sự làm gia tăng chi phí
Theo đánh giá của các doanh nghiệp thủy sản, tác động tiêu cực từ chiến sự ở Trung Đông đang ngày một rõ ràng hơn, lớn hơn và khó đoán định hơn. Đó là tình trạng lạm phát, là vật giá tăng ngày càng mạnh… nhưng sức mua và việc làm thì có xu hướng chậm lại. Ông Võ Văn Phục – Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Thủy sản sạch Việt Nam cho biết, hàng loạt chi phí đều đã tăng mạnh kể từ khi chiến sự Trung Đông nổ ra đến nay, nhất là chi phí vận chuyển. “Chỉ tính riêng việc giá xăng dầu tăng cao cũng làm cho doanh nghiệp mất đi từ 1 đến vài tỷ đồng chi phí vận chuyển mỗi tháng. Đó là chưa kể, cước vận chuyển bằng tàu biển cũng đã tăng vài chục phần trăm mỗi container, rồi chi phí bảo hiểm hàng hóa… đều tăng so với trước khi chiến sự nổ ra” – ông Phục cho biết thêm.
Còn theo ông Hồ Quốc Lực – Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Thực phẩm Sao Ta, chiến sự ở Trung Đông có sự nhạy cảm và phức tạp hơn nhiều so với một số chiến sự xảy ra gần đây trên thế giới. Nguyên nhân là bởi nó gắn liền với “mạch máu” kinh tế toàn cầu, đó là nguồn cung năng lượng to lớn từ vùng chiến sự này. Điều này thể hiện rất rõ khi chiến sự chỉ mới diễn ra hơn 1 tháng, nhưng nó đã tác động tiêu cực quá lớn cho toàn cầu, trong đó, thủy sản nói chung và ngành tôm nói riêng đã và đang hết sức vất vả. “Hiện tất cả các yếu tố đầu vào cho nghề nuôi, chế biến đều tăng khá mạnh. Riêng doanh nghiệp tôm còn đối diện với chi phí tàu biển tăng mạnh (trên 30%) trong khi giá tiêu thụ sản phẩm lại cầm chừng, mà nguyên nhân chủ yếu đến từ tác động giá xăng dầu tăng do tác động từ chiến sự trên. Từ đó, tác động làm gãy đổ kế hoạch sản xuất kinh doanh, lợi nhuận sẽ giảm mạnh, thậm chí bào mòn nguồn lực của các cơ sở nuôi, doanh nghiệp chế biến nếu cuộc chiến kéo dài” – ông Lực chia sẻ.
Vừa qua, tại Hội nghị thường niên diễn ra vào chiều 27/3, ông Nguyễn Văn Hào – Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP. Cần Thơ (CBA), nhận định rằng, xung đột Nga – Ukraina, chiến tranh Iran suốt thời gian qua làm đứt gãy chuỗi cung ứng, đẩy giá dầu tăng cao, kéo theo hàng loạt chi phí trong vận tải, sản xuất và logistics tăng mạnh, gây áp lực ngày càng lớn đối với cộng đồng doanh nghiệp. Đó là chưa kể đến những áp lực khác đến từ sự thay đổi trong chính sách nhập khẩu của các thị trường lớn; từ chi phí tiền lương cơ bản, mặt bằng lãi suất… đều đã tăng, dẫn đến giá thành tăng, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp giảm. “Những tác động của tình hình trên thể hiện rõ qua chi phí, thời gian giao hàng kéo dài, sự sụt giảm đơn hàng ở một số thị trường… Riêng Cần Thơ, với đa số doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực nông, thủy sản, logistics và xuất khẩu thì khó khăn lại càng chồng chất, rủi ro ngày càng lớn” – ông Hào nhận định.
Áp lực ngày càng lớn
Tác động tiêu cực của chiến sự Trung Đông đã len lỏi đến mọi quốc gia, mọi lĩnh vực, ngành nghề. Đối với ngành tôm, điều dễ nhận thấy nhất không chỉ ở giá các loại vật tư đầu vào phục vụ nuôi và chế biến đều tăng mà còn ở giá tôm nguyên liệu liên tục đi xuống từ đầu tháng 3 đến nay. Theo quy luật, từ cuối tháng 4 trở đi, khi vùng nuôi tôm trọng điểm khu vực ĐBSCL bước vào thu hoạch rộ vụ tôm chính, giá tôm mới bắt đầu giảm. Tuy nhiên, năm nay, ngay từ đầu tháng 3, giá tôm đã bắt đầu giảm đến hiện tại vẫn chưa cho thấy có dấu hiệu hạ nhiệt. Theo lý giải của doanh nghiệp, do tác động của chiến sự Trung Đông làm tăng hầu hết chi phí, nhất là chi phí logictics, trong khi sức mua lại giảm, nên giá bán gần như đứng yên, nên doanh nghiệp cũng hạn chế mua vào vì ít có hợp đồng khiến giá tôm trong nước giảm mạnh trong suốt tháng 3. Việc giá tôm giảm sớm và giảm mạnh đã tác động không nhỏ đến tiến độ thả giống vụ nuôi mới 2026. Điều này cũng tạo nên “cơn đau đầu” cho doanh nghiệp, vì một khi chiến sự Trung Đông kết thúc sớm, kinh tế thế giới trở lại quỹ đạo ban đầu, sức mua tăng trở lại, doanh nghiệp sẽ không có đủ nguồn tôm nguyên liệu phục vụ cho những đơn hàng mới.
Một áp lực khác tuy không mới nhưng dai dẵng, khó có thể đáp ứng trong ngày 1 ngày 2 đó chính là các quy định mới của chuỗi cung ứng bền vững toàn cầu tại các thị trường lớn của con tôm Việt Nam. Đơn cử như thị trường EU, doanh nghiệp không chỉ phải tuân thủ quy định lao động mà còn đáp ứng yêu cầu cao về phúc lợi động vật, môi trường, kinh tế tuần hoàn và tỷ lệ bao bì tái chế. Tại đây, để tiếp cận hệ thống phân phối cao cấp có giá bán cao, đòi hỏi con tôm phải đạt chứng nhận ASC. Trong khi đó, tỷ lệ tôm đạt tiêu chuẩn ASC của Việt Nam còn thấp so với Ecuador nên việc cạnh tranh càng trở nên khó khăn hơn. Còn tại thị trường Hoa Kỳ, ngoài những khó khăn về thuế quan thì theo công bố của Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA), chương trình ưu tiên năm 2026 đối với thực phẩm dành cho con người (trong đó có sản phẩm tôm) nhấn mạnh việc tăng cường lấy mẫu, mở rộng hợp tác quản lý và áp dụng công nghệ giải trình tự gene để truy xuất nguồn cung. Điều này đồng nghĩa yêu cầu minh bạch chuỗi cung ứng ngày càng cao.
“Dĩ bất biến, ứng vạn biến”
Đó cũng chính là phương châm hành động của doanh nghiệp trước những tác động tiêu cực của biến động địa chính trị, kinh tế trên toàn cầu. Hơn nữa, theo nhận định của doanh nghiệp, trên bình diện toàn cầu, cuộc đua tôm ngày càng gay gắt. Ecuador và Ấn Độ có lợi thế quy mô lớn, chi phí thấp và hệ thống chứng nhận quốc tế bài bản. Trong khi đó, con tôm Việt Nam ngoài lợi thế về trình độ chế biến, uy tín chất lượng, thì việc giá thành sản xuất cao, tỷ lệ tôm nuôi đạt chuẩn quốc tế thấp, truy xuất nguồn gốc điện tử chưa đồng bộ… chính là những lực cản của sức cạnh tranh. Tuy nhiên, các doanh nghiệp đã không hề ngồi yên than thở, bởi họ biết rằng “khó ta cũng khó người” vì đây là khó khăn chung của cả thế giới. Ông Phục trấn an: “Nếu nhìn vào thực tế, sẽ thấy, hiện có nhiều quốc gia còn khó khăn hơn chúng ta rất nhiều. Vì vậy, thay vì ngồi đó than thở, chúng ta hãy tập trung suy nghĩ, tìm cách vượt khó. Hy vọng sắp tới chiến sự khu vực Trung Đông sớm kết thúc, sức mua tăng bật trở lại, giá tôm nguyên liệu sẽ phục hồi, cơ hội rồi sẽ lại đến với doanh nghiệp và người nuôi tôm”.
Theo ghi nhận của phóng viên Tạp chí Thủy sản Việt Nam, dù sản lượng tôm chế biến, tiêu thụ trong tháng 3 của hầu hết doanh nghiệp đều có sự sụt giảm so với cùng kỳ, nhưng nhìn chung nhịp độ sản xuất vẫn được duy trì. Rõ nét nhất trong cách ứng biến của doanh nghiệp chính là sự chuyển hướng thị trường, tập trung cho các thị trường gần, cước vận chuyển thấp, như: Nhật, Hàn Quốc, Australia, Đài Loan, Hồng Kông, Trung Quốc… Tuy nhiên, do đây là giai đoạn thấp điểm tiêu thụ (các ngày lễ, tết đã qua) cùng với lượng hàng tồn kho ở các thị trường này nên sản lượng tiêu thụ vẫn chưa được như mong muốn. Mặc dù vậy, các doanh nghiệp vẫn nhận định đây là những thị trường tiềm năng, là kênh thoát hiểm trong ngắn hạn để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh chờ cơ hội khi chiến sự Trung Đông kết thúc sẽ tăng tốc. Bởi theo doanh nghiệp, chỉ cần tận dụng tốt cơ hội thị trường, củng cố chuỗi cung ứng và kiên định với định hướng xanh hóa, số hóa và chế biến sâu, ngành tôm vẫn có khả năng về đích đúng theo kế hoạch.
Xuân Trường