(TSVN) – Trong bối cảnh thương mại thủy sản toàn cầu biến động bởi xung đột địa chính trị và xu hướng bảo hộ gia tăng tại các thị trường lớn, Nhật Bản, Anh được coi như một điểm đến ổn định cho tôm Việt Nam.
Ngành tôm Việt Nam vẫn còn nhiều dư địa phát triển. Tuy nhiên, con đường phía trước không còn là mở rộng diện tích hay tăng mật độ nuôi, mà là nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững.
Bởi lẽ, tuy đạt nhiều thành tựu, mô hình tăng trưởng dựa vào thâm canh hóa đang bộc lộ những hạn chế nhất định. Áp lực môi trường tại các vùng nuôi tập trung ngày càng lớn, trong khi hạ tầng xử lý nước thải chưa theo kịp tốc độ phát triển. Thực tiễn cho thấy, những mô hình biết cân bằng giữa lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường sẽ có khả năng trụ vững lâu dài.
Mô hình tăng trưởng dựa vào thâm canh hóa đang bộc lộ những hạn chế nhất định. Ảnh: Trọng Linh
Không chỉ chịu áp lực từ bên trong, ngành tôm Việt Nam còn đối mặt với cạnh tranh gay gắt từ các quốc gia như Ecuador, Ấn Độ hay Indonesia – những nước có lợi thế về quy mô và chi phí sản xuất thấp.
Trong khi đó, sản xuất trong nước vẫn chủ yếu dựa vào hộ nuôi nhỏ lẻ, chuỗi cung ứng phân tán, chi phí đầu vào cao. Điều này khiến khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và phát triển bền vững gặp nhiều khó khăn. Do đó, việc đầu tư hạ tầng vùng nuôi, hoàn thiện thể chế, thúc đẩy liên kết chuỗi và hỗ trợ hộ nuôi nhỏ tiếp cận công nghệ sẽ là những yếu tố quyết định.
Ngành tôm đang đứng trước một bước ngoặt quan trọng. Những bài học trong chính quá trình phát triển, từ thâm canh nóng đến khủng hoảng dịch bệnh, đang đặt ra yêu cầu phải thay đổi. Phát triển xanh, quản trị tốt và liên kết hiệu quả sẽ là chìa khóa để tôm Việt Nam không chỉ giữ vững vị thế mà còn vươn lên trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Nhật Bản tiếp tục nằm trong nhóm thị trường nhập khẩu tôm lớn và có yêu cầu cao đối với Việt Nam. Dù chịu tác động từ biến động kinh tế và sức mua, thị trường này vẫn duy trì vai trò quan trọng nhờ tính ổn định và giá trị gia tăng cao.
Số liệu từ Hải quan Việt Nam cho thấy, tính đến ngày 15/3/2026, xuất khẩu tôm sang Nhật Bản đạt 89 triệu USD, tăng 2% so cùng kỳ năm trước, chiếm 10,4% tổng kim ngạch xuất khẩu tôm. Nhật Bản hiện là thị trường tiêu thụ tôm lớn thứ ba của Việt Nam, sau Trung Quốc và EU.
Một trong những lợi thế cạnh tranh lớn nhất của tôm Việt Nam tại Nhật Bản là năng lực chế biến. Khác với nhiều thị trường khác, người tiêu dùng tại đây có xu hướng ưa chuộng các sản phẩm tiện lợi, chế biến sẵn hoặc sơ chế kỹ.
Tôm là mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Anh. Ảnh: Shutterstock
Nhờ đó, các doanh nghiệp Việt Nam đã phát triển mạnh các dòng sản phẩm giá trị gia tăng như tôm tẩm bột, tôm hấp chín, tôm sushi, tempura,… phù hợp với hệ thống siêu thị, cửa hàng tiện lợi và chuỗi nhà hàng. Đây chính là “điểm tựa” giúp tôm Việt Nam duy trì thị phần tại Nhật Bản, ngay cả khi cạnh tranh từ các quốc gia như Ấn Độ, Ecuador hay Thái Lan ngày càng gia tăng.
Thị trường Nhật Bản đang chứng kiến sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng khi người dân có xu hướng thắt chặt chi tiêu do áp lực chi phí sinh hoạt. Điều này khiến nhu cầu đối với các sản phẩm cao cấp suy giảm phần nào, tác động trực tiếp đến phân khúc tôm sú.
Tuy nhiên, xu hướng này lại mở ra cơ hội cho các sản phẩm tôm chế biến, tiện lợi, giá hợp lý – phân khúc mà doanh nghiệp Việt Nam có nhiều lợi thế. Các sản phẩm đóng gói nhỏ, dễ chế biến, phù hợp với hộ gia đình ít người hoặc người cao tuổi đang được ưa chuộng hơn.
Bên cạnh đó, các tiêu chuẩn khắt khe về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và an toàn thực phẩm tại Nhật Bản tiếp tục là hàng rào kỹ thuật nhưng cũng là cơ hội để doanh nghiệp Việt nâng cao năng lực sản xuất, hướng tới phát triển bền vững.
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc duy trì thị phần tại Nhật Bản đòi hỏi doanh nghiệp không chỉ đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng mà còn phải linh hoạt trong chiến lược sản phẩm. Để tận dụng tốt cơ hội từ thị trường này, ngành tôm cần tiếp tục đầu tư vào chế biến sâu, tối ưu chi phí sản xuất, đồng thời nâng cao khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật.
Với nền tảng đã được thiết lập, cùng khả năng thích ứng với xu hướng tiêu dùng mới, Nhật Bản được kỳ vọng tiếp tục là thị trường trụ cột, góp phần duy trì tăng trưởng ổn định cho xuất khẩu tôm Việt Nam trong thời gian tới.
Trong khi đó, tại thị trường Anh, sau Brexit, nước này không chỉ duy trì nhu cầu nhập khẩu lớn mà còn từng bước định hình lại chuỗi cung ứng theo hướng đa dạng hóa nguồn cung.
Anh là quốc gia có mức tiêu thụ thủy sản cao nhưng phụ thuộc mạnh vào nhập khẩu. Năm 2025, khoảng 58% nguồn cung thủy sản đến từ bên ngoài, trong khi với riêng mặt hàng tôm, tỷ lệ này lên tới 99%. Điều này khẳng định vai trò của các quốc gia xuất khẩu, trong đó có Việt Nam, trong việc đảm bảo nguồn cung cho thị trường này.
Tuy nhiên, lạm phát tăng cao ở Anh tác động mạnh tới quyết định chi tiêu của người tiêu dùng đối với các sản phẩm thủy sản. Những sản phẩm thủy sản đông lạnh, tiện dụng dễ chế biến ở nhà sẽ là sản phẩm thủy sản được lựa chọn. Xu hướng tiêu dùng này cho thấy sự ưu tiên rõ rệt đối với các sản phẩm tiện lợi, phù hợp với lối sống nhanh và hệ thống bán lẻ hiện đại tại Anh.
Người tiêu dùng Anh luôn chỉ lựa chọn những sản phẩm có những tiêu chuẩn cao do các cơ quan chức năng ở Anh và EU cấp về chất lượng sản phẩm, về nguồn gốc, tính bền vững của sản phẩm, thân thiện với môi trường và tiện dụng.
Tôm là một trong những sản phẩm tiêu thụ phổ biến tại Anh, xuất hiện rộng rãi trong cả kênh bán lẻ và dịch vụ ăn uống. Các sản phẩm phổ biến trên thị trường gồm: tôm bóc vỏ đông lạnh, tôm hấp chín, tôm tẩm bột hoặc chiên, cũng như các sản phẩm tiện lợi dùng cho salad, sandwich và các bữa ăn chế biến sẵn.
Tôm là một trong những mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Anh, với các đối thủ cạnh tranh chính gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Ecuador và Thái Lan. Sau một thời gian biến động do đại dịch COVID-19, những nhà cung cấp tôm này đang dần ổn định nguồn cung, tạo ra nhiều thách thức đối với mặt hàng tôm của Việt Nam, đặc biệt là tôm đến từ Ecuador và Ấn Độ.
Anh luôn là thị trường có yêu cầu cao về những sản phẩm thủy sản chất lượng do vậy khi kinh tế phục hồi, nhu cầu nhập khẩu những sản phẩm thủy sản có trị giá cao ở dạng tươi sống, cỡ to phục vụ tiêu dùng ở các nhà hàng sẽ tăng trở lại. Việt Nam muốn đáp ứng được các yêu cầu của thị trường này thì cần có những sản phẩm tiên phong về mẫu mã, hình thức và khẩu vị, khi đó mới có thể tăng mạnh thị phần thủy sản ở thị trường Anh.
Về dài hạn, với đặc điểm của thị trường và nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng với các mặt hàng thủy sản, Vương quốc Anh vẫn sẽ là thị trường tiềm năng. Các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của Việt Nam khi dần thích nghi với những cam kết, khả năng tận dụng những ưu đãi tăng lên, sẽ nâng cao tính cạnh tranh tại thị trường này.
Đông Phong