(TSVN) – Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường Liên minh châu Âu (EU) đang ghi nhận những biến động đáng chú ý trong những tháng đầu năm 2026, khi xu hướng sụt giảm theo tháng diễn ra rõ nét, dù vẫn duy trì mức tăng trưởng nhẹ so với cùng kỳ năm trước.
Theo số liệu tổng hợp từ cơ quan hải quan, trong tháng 2/2026, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU đạt khoảng 64,9 triệu USD, giảm tới 31,9% so với tháng trước nhưng tăng 2,2% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế hai tháng đầu năm, kim ngạch đạt 160,2 triệu USD, tương đương khoảng 13,7% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang thị trường này trong năm 2025. EU vẫn là một trong những thị trường quan trọng của ngành thủy sản nước ta. Tháng 2/2026, tỷ trọng xuất khẩu sang thị trường này chiếm khoảng 9,2% tổng kim ngạch toàn ngành và đang có xu hướng thu hẹp so với các thị trường lớn như Trung Quốc hay Mỹ.
Xét về cơ cấu mặt hàng, tôm tiếp tục giữ vai trò chủ lực trong xuất khẩu sang EU, với kim ngạch đạt hơn 30 triệu USD trong tháng 2, chiếm trên 40% tổng giá trị. Đáng chú ý, dù giảm mạnh so với tháng trước, xuất khẩu tôm vẫn tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước, đồng thời ghi nhận mức tăng giá xuất khẩu bình quân lên tới gần 74%.

Tôm tiếp tục giữ vai trò chủ lực trong xuất khẩu thủy sản sang thị trường EU: Ảnh: TTXVN
Trong khi đó, các sản phẩm cá ngừ và cá da trơn lại đối mặt với nhiều khó khăn hơn. Xuất khẩu cá ngừ giảm mạnh cả theo tháng lẫn theo năm, còn mặt hàng cá da trơn có mức giảm nhẹ hơn nhưng vẫn chưa cho thấy dấu hiệu phục hồi rõ rệt. Nhìn chung, cơ cấu xuất khẩu thủy sản sang EU đang có xu hướng tập trung hơn vào một số mặt hàng có lợi thế cạnh tranh, trong khi các sản phẩm còn lại chịu áp lực lớn từ thị trường.
Một trong những nguyên nhân chính tác động đến xuất khẩu thủy sản sang EU là sự suy giảm nhu cầu tiêu dùng trong khu vực. Nền kinh tế EU đang đối mặt với nguy cơ tăng trưởng chậm lại, trong khi lạm phát duy trì ở mức cao do tác động của giá năng lượng gia tăng, đặc biệt trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông làm gián đoạn nguồn cung dầu khí. Điều này khiến người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu, ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng thủy sản, nhất là ở phân khúc trung và cao cấp.
Bên cạnh yếu tố cầu, thị trường EU cũng đang chứng kiến những biến động đáng kể từ phía cung. Ngành khai thác thủy sản nội khối gặp nhiều khó khăn do chi phí nhiên liệu tăng mạnh, có thời điểm cao hơn khoảng 40% so với trước đây. Trong nhiều trường hợp, chi phí vận hành đã vượt quá doanh thu, buộc một số tàu cá phải tạm ngừng hoạt động. Tình trạng này có thể tạo ra khoảng trống nguồn cung và mở ra cơ hội cho các quốc gia xuất khẩu như Việt Nam. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, cơ hội này chưa thể chuyển hóa thành tăng trưởng xuất khẩu do sức cầu vẫn yếu.
Ngoài ra, các yếu tố chính sách cũng đang tạo ra những thách thức đáng kể đối với doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản. EU ngày càng siết chặt các quy định liên quan đến truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và phát triển bền vững. Bên cạnh đó, cạnh tranh quốc tế cũng ngày càng gia tăng khi nhiều quốc gia xuất khẩu thủy sản như Ecuador hay Ấn Độ đang đẩy mạnh thâm nhập thị trường EU với lợi thế về giá và quy mô sản xuất. Điều này khiến các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với áp lực kép, vừa phải duy trì chất lượng, vừa phải kiểm soát chi phí để giữ vững thị phần.
Dù đối mặt với nhiều thách thức, thị trường EU vẫn được đánh giá là có tiềm năng dài hạn nhờ quy mô lớn và mức độ ổn định cao. Việc thực thi các hiệp định thương mại tự do như EVFTA tiếp tục mang lại lợi thế về thuế quan cho hàng thủy sản Việt Nam. Đồng thời, xu hướng tiêu dùng bền vững và sản phẩm chất lượng cao tại EU cũng mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp có khả năng đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe.
Phan Thảo