(TSVN) – Trong xu thế phát triển mạnh mẽ của ngành nuôi trồng thủy sản, việc hoàn thiện cơ chế quản lý giống thủy sản có ý nghĩa quyết định đến năng suất, chất lượng và tính bền vững của toàn ngành. Thông tư số 16/2026/TT-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đưa ra nhiều quy định cụ thể, trong đó có hai nội dung quan trọng là quản lý chất lượng và thời hạn sử dụng giống.
Thông tư đã thiết lập một hệ thống quản lý đồng bộ đối với giống thủy sản từ khâu sản xuất, ương dưỡng đến lưu thông trên thị trường. Theo quy định tại Điều 7, việc kiểm tra chất lượng giống thủy sản trong sản xuất, ương dưỡng được thực hiện theo pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, bảo đảm giống đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và các yêu cầu về an toàn sinh học. Đồng thời, Điều 8 quy định việc kiểm tra chất lượng giống thủy sản lưu thông trên thị trường nhằm kiểm soát chất lượng đầu ra, kịp thời phát hiện và xử lý các lô giống không đạt yêu cầu.
Quy định mới đặt ra yêu cầu về minh bạch thông tin và truy xuất nguồn gốc giống thủy sản. Ảnh: VM
Bên cạnh đó, Thông tư cũng nhấn mạnh về cơ chế xử lý vi phạm chất lượng được quy định. Cụ thể tại Điều 9 chỉ rõ giống thủy sản vi phạm chất lượng phải tiêu hủy bằng các biện pháp như gia nhiệt từ 90°C trở lên, cấp đông hoặc sử dụng hóa chất được phép; đồng thời phải lập biên bản tiêu hủy với đầy đủ thông tin và chữ ký của các bên liên quan. Trường hợp không tiêu hủy, giống vi phạm có thể được chuyển mục đích sử dụng sang làm cảnh, giải trí hoặc nghiên cứu khoa học, nhưng phải có phương án và báo cáo cơ quan quản lý cấp tỉnh để giám sát.
Đối với giống thủy sản nhập khẩu, Điều 16 Thông tư quy định rõ trình tự, thủ tục cấp phép. Cụ thể, việc nhập khẩu giống không có trong Danh mục được phép kinh doanh tại Việt Nam chỉ được thực hiện khi có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền, chủ yếu phục vụ mục đích khảo nghiệm, nghiên cứu khoa học hoặc trưng bày. Hồ sơ nhập khẩu bao gồm đơn đề nghị, tài liệu mô tả loài và các giấy tờ liên quan. Trong trường hợp phát hiện nguy cơ ảnh hưởng đến chất lượng, môi trường hoặc an toàn sinh học, cơ quan quản lý có thể tổ chức kiểm tra hệ thống sản xuất giống tại nước xuất khẩu để đánh giá và đưa ra biện pháp xử lý phù hợp.
Ngoài ra, Thông tư cũng đặt ra yêu cầu về minh bạch thông tin và truy xuất nguồn gốc. Theo Điều 13, các cơ sở sản xuất, ương dưỡng hoặc nhập khẩu giống thủy sản phải đăng ký tài khoản trên hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về thủy sản để cập nhật thông tin.
Các nội dung trên đã nhấn mạnh việc cơ quan quản lý chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, trong đó tăng cường giám sát xuyên suốt vòng đời sản phẩm, từ sản xuất đến lưu thông và cả khâu nhập khẩu.
Bên cạnh quản lý chất lượng, Thông tư 16 đã đưa ra các quy định cụ thể về thời hạn sử dụng giống thủy sản bố mẹ. Cụ thể, theo Điều 11 Thông tư này, đối với tôm thẻ chân trắng bố mẹ, thời hạn sử dụng tối đa 140 ngày kể từ ngày nhập khẩu nếu đạt khối lượng tiêu chuẩn; trường hợp khác, thời hạn sử dụng tối đa 120 ngày tính từ ngày cho sinh sản lần đầu. Với tôm sú bố mẹ, thời hạn tương ứng là tối đa 80 ngày kể từ ngày nhập khẩu hoặc 60 ngày tính từ ngày cho sinh sản lần đầu.
Thông tư cũng quy định rõ trách nhiệm của cơ sở sản xuất, kinh doanh giống thủy sản. Theo quy định chung tại Điều 3, tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của hồ sơ đã nộp, đồng thời phải bảo đảm tính chính xác của thông tin, tài liệu cung cấp cho cơ quan quản lý. Trong trường hợp áp dụng kiểm tra trực tuyến do điều kiện đặc biệt, cơ sở vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của thông tin, tài liệu, hình ảnh, hồ sơ cung cấp.
Trong hoạt động sản xuất và kinh doanh, cơ sở phải đáp ứng các điều kiện theo quy định và chịu sự kiểm tra của cơ quan chức năng (tại Điều 4). Việc kiểm tra được thực hiện định kỳ hoặc đột xuất, với các tiêu chí liên quan đến điều kiện sản xuất, nhân lực và hệ thống quản lý chất lượng. Điều này nhằm bảo đảm chỉ những cơ sở đủ điều kiện mới được tham gia sản xuất, cung ứng giống ra thị trường.
Đặc biệt, khi xảy ra vi phạm về chất lượng, cơ sở không chỉ có nghĩa vụ chấp hành quyết định xử lý mà còn phải chủ động thực hiện các biện pháp khắc phục. Trong đó, tại Điều 9 chỉ rõ, cơ sở phải phối hợp trong việc tiêu hủy hoặc chuyển mục đích sử dụng giống vi phạm, đồng thời xây dựng phương án và báo cáo cơ quan quản lý để giám sát quá trình thực hiện.
Thông tư 16 đã tạo lập một khung pháp lý tương đối hoàn chỉnh đối với giống thủy sản, kết hợp giữa quản lý chất lượng, kiểm soát nhập khẩu và quy định về thời hạn sử dụng. Việc gắn trách nhiệm cụ thể cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh không chỉ giúp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước mà còn góp phần bảo vệ người nuôi, hướng tới phát triển bền vững ngành thủy sản trong bối cảnh mới.
Bảo Hân