(TSVN) – Trước áp lực dịch bệnh, thời tiết và chi phí đầu vào, nuôi tôm công nghệ cao đang được nhiều hộ tại Nghệ An lựa chọn để tăng khả năng kiểm soát môi trường, chủ động mùa vụ và nâng hiệu quả sản xuất. Mô hình của ông Nguyễn Văn Hòa ở xã Hải Châu là một điển hình.
Nghề nuôi tôm tại vùng bãi ngang ven biển Nghệ An có nhiều lợi thế nhưng cũng chịu tác động rõ rệt của thời tiết, đặc biệt là mưa bão, rét và biến động môi trường. Trước những rủi ro này, nhiều hộ dân đã đầu tư theo hướng thâm canh, siêu thâm canh, nuôi trong nhà màng, bể nổi và áp dụng quy trình 2 – 3 giai đoạn nhằm nâng cao khả năng kiểm soát sản xuất.
Trong số đó, mô hình của ông Nguyễn Văn Hòa tại xóm Xuân Châu, xã Hải Châu là một điển hình. Bắt đầu nuôi tôm với 3 ao vào năm 2019, sau quá trình tích lũy kinh nghiệm và điều chỉnh phương thức sản xuất, ông từng bước mở rộng lên 16 ao trên diện tích hơn 1,2 ha, trong đó có 13 ao nuôi tôm thẻ chân trắng. Toàn bộ mô hình được đầu tư theo hướng khép kín, chú trọng kiểm soát các yếu tố đầu vào thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên.
Nhờ kiểm soát tốt các yếu tố đầu vào, mô hình có thể duy trì 3 – 4 vụ/năm. Ảnh: Báo Quân đội Nhân dân
Quá trình chuyển đổi này bắt nguồn từ những thất bại trong những năm đầu do mưa bão và dịch bệnh khiến toàn bộ ao nuôi bị thiệt hại. Từ thực tế đó, ông Hòa nhận thấy, với vùng ven biển có thời tiết biến động, đầu tư công nghệ không chỉ nhằm tăng năng suất mà quan trọng hơn là tạo thế chủ động trước môi trường và hạn chế rủi ro.
Từ kinh nghiệm thực tế, ông thay đổi cả thiết kế lẫn cách vận hành hệ thống. Bờ và đáy ao được bê tông hóa, trải bạt; hệ thống cấp, xử lý nước, thu gom chất thải và tạo ôxy được đầu tư đồng bộ. Khu vực sản xuất được che phủ bằng mái nhiều lớp, giúp hạn chế tác động của nắng nóng, rét và mưa, qua đó duy trì điều kiện thuận lợi hơn cho tôm sinh trưởng.
Chia sẻ với báo chí, ông Hòa cho biết, điểm nổi bật của mô hình là áp dụng quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng 3 giai đoạn. Giai đoạn đầu, tôm được ương trong khoảng 18 – 20 ngày. Đây là thời điểm tôm còn nhỏ, sức chống chịu chưa cao nên chất lượng nước, nhiệt độ, thức ăn và sức khỏe đàn tôm được kiểm soát chặt chẽ.
Sau giai đoạn ương, tôm được chuyển sang các ao nuôi chuyển tiếp có diện tích khoảng 200 – 250 m² trong khoảng 40 ngày. Quy mô ao vừa phải giúp thuận lợi theo dõi đàn tôm, điều chỉnh thức ăn và xử lý kịp thời khi môi trường có dấu hiệu bất thường.
Khi tôm đạt kích cỡ và sức khỏe phù hợp sẽ được chuyển sang khu nuôi thương phẩm với các ao rộng khoảng 500 – 1.500 m². Tại đây, mật độ và các điều kiện môi trường được điều chỉnh theo từng giai đoạn phát triển cho đến khi thu hoạch.
Việc phân tách các giai đoạn giúp giảm áp lực quản lý trên từng ao, đồng thời tạo điều kiện kiểm soát tốt hơn mật độ, thức ăn, môi trường và sức khỏe tôm. Đây cũng là cơ sở để mô hình vận hành theo hướng khép kín, hạn chế rủi ro lây lan khi có vấn đề phát sinh tại một khu vực.
Song song với quy trình 3 giai đoạn, ông Hòa đặc biệt chú trọng nguồn nước. Nước được xử lý qua nhiều ao trước khi cấp vào khu nuôi, kết hợp sục khí và sử dụng chế phẩm sinh học để hỗ trợ kiểm soát môi trường. Hệ thống sục khí nano cũng được đầu tư nhằm tăng khả năng cung cấp ôxy cho tôm.
Nhờ kiểm soát tốt các yếu tố đầu vào, mô hình có thể duy trì 3 – 4 vụ/năm, trong đó có cả vụ Đông, sản lượng đạt 50 – 70 tấn tôm thương phẩm, lợi nhuận hơn 1 tỷ đồng. Mô hình cũng tạo việc làm cho lao động địa phương, đồng thời trở thành điểm tham khảo cho các hộ đang tìm hướng chuyển đổi sang nuôi tôm công nghệ cao.
Nguyễn An