(TSVN) – Nước đầu vào có thể mang theo chất rắn lơ lửng, tác nhân ô nhiễm và mầm bệnh, ảnh hưởng đến sức khỏe và tỷ lệ sống của con giống. Do đó, cần xử lý nước qua nhiều công đoạn, từ lọc cơ học, khử trùng đến kiểm soát tồn dư hóa chất và ngăn ngừa tái nhiễm trong hệ thống trại giống.
Lọc nước cơ học
Nguồn nước cấp cho trại giống có thể lấy từ sông, kênh, biển, giếng hoặc hệ thống cấp nước tập trung. Tùy nguồn nước và đối tượng sản xuất, các nguy cơ cần kiểm soát bao gồm chất rắn lơ lửng, chất hữu cơ, sinh vật gây hại, vi khuẩn, virus và dư lượng hóa chất.
Bước đầu tiên là lắp lưới chắn tại cửa lấy nước để loại bỏ rác, cá tạp, động vật thủy sinh và các vật thể lớn. Sau đó, nước được đưa vào bể lắng để giảm lượng chất rắn lơ lửng. Thời gian lắng phụ thuộc vào đặc tính nguồn nước và thiết kế bể; khi cần thiết, có thể kết hợp lọc cát hoặc các thiết bị lọc chuyên dụng.
Đối với trại sản xuất giống có yêu cầu cao về chất lượng nước, hệ thống lọc túi, lọc lõi hoặc màng lọc có thể được bố trí theo nhiều cấp, từ lọc thô đến lọc tinh. Kích thước lọc cần căn cứ vào đối tượng nuôi, nguy cơ mầm bệnh và yêu cầu của công đoạn tiếp theo. Theo hướng dẫn của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), loại bỏ chất rắn trước khi khử trùng giúp nâng cao hiệu quả xử lý, bởi các hạt hữu cơ có thể làm giảm tác dụng của hóa chất khử trùng và cản trở quá trình chiếu tia cực tím (UV).
Chất lượng nước ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tỷ lệ sống của tôm giống. Ảnh: Báo Chính phủ
Lựa chọn phương pháp khử trùng phù hợp
Sau khi lọc cơ học, nước cần được khử trùng bằng phương pháp phù hợp với quy mô trại giống, chất lượng nguồn nước và mức độ kiểm soát mầm bệnh yêu cầu.
Khử trùng bằng Chlorine: Đây là phương pháp được sử dụng tại nhiều trại giống nhờ khả năng xử lý nước và tính sẵn có của hóa chất. Liều lượng, thời gian tiếp xúc phụ thuộc vào hàm lượng chất hữu cơ, nhu cầu Chlorine của nước và hiệu lực sản phẩm. Sau xử lý, cần loại bỏ hoặc trung hòa Chlorine dư theo quy trình đã được kiểm chứng, đồng thời xác nhận nồng độ tồn dư đạt yêu cầu trước khi cấp nước vào bể ương. Không nên áp dụng một liều cố định cho mọi nguồn nước.
Khử trùng bằng tia UV: Phương pháp này không cần bổ sung hóa chất trực tiếp vào nước. Tuy nhiên, hiệu quả phụ thuộc vào độ trong của nước, cường độ chiếu, thời gian tiếp xúc, lưu lượng qua thiết bị và tình trạng đèn. Cần vệ sinh ống thạch anh để tránh cặn bám làm giảm hiệu quả chiếu tia UV, đồng thời theo dõi thời gian vận hành và thay đèn theo khuyến cáo của nhà sản xuất.
Khử trùng bằng ozone: Ozone có khả năng ôxy hóa mạnh, hỗ trợ giảm tải vi sinh vật và xử lý một số hợp chất hữu cơ. Tuy nhiên, nếu sử dụng không đúng mức, ozone và các sản phẩm ôxy hóa hình thành trong nước biển có thể gây độc cho ấu trùng và con giống. Vì vậy, hệ thống cần được thiết kế phù hợp, kiểm soát quá trình xử lý và xác nhận nước an toàn trước khi sử dụng.
Ngăn ngừa tái nhiễm mầm bệnh
Nước sau xử lý vẫn có thể tái nhiễm nếu bể chứa, đường ống, van cấp, máy bơm hoặc dụng cụ tiếp xúc không được vệ sinh đúng cách. Vì vậy, cần tách biệt đường nước chưa xử lý và nước đã xử lý; hạn chế các điểm giao cắt, dòng chảy ngược và nguy cơ nước thải quay trở lại cửa lấy nước.
Bể chứa, đường ống và thiết bị cần được vệ sinh định kỳ theo quy trình, đồng thời kiểm soát chất lượng nước tại các điểm quan trọng, không chỉ ở đầu nguồn. Dụng cụ sử dụng giữa các khu vực cần được làm sạch, khử trùng và bảo quản riêng. Nước thải từ khu vực có nguy cơ mang mầm bệnh phải được thu gom, xử lý phù hợp trước khi xả ra môi trường, tránh ảnh hưởng đến nguồn cấp.
Trại giống nên xây dựng quy trình vận hành chuẩn, ghi chép thời điểm xử lý, hóa chất sử dụng, thông số vận hành thiết bị, kết quả kiểm tra tồn dư và các chỉ tiêu chất lượng nước. Khi nguồn nước biến động bất thường hoặc xuất hiện dấu hiệu dịch bệnh, cần tăng tần suất kiểm tra, đánh giá lại hiệu quả xử lý và xem xét tạm ngừng cấp nước nếu có nguy cơ mất an toàn.
Nguyễn Hằng