(TSVN) – Kiểm soát cá giống, nguồn nước, dụng cụ và hạn chế tiếp xúc giữa các đàn cá là những biện pháp then chốt nhằm ngăn Koi herpesvirus xâm nhập, phát tán trong ao nuôi cá chép.
Nguyên nhân
Bệnh do Koi herpesvirus ở cá chép (KHV) là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do Cyprinid herpesvirus 3 (CyHV-3). KHV (CyHV-3) thuộc giống Herpesvirus, họ Herpesviridae.
Đặc điểm dịch tễ
– Loài cảm nhiễm: Các loài cá thuộc họ cá chép và cá chép lai nhiễm KHV: Cyprinus carpio, Carassius auratus, Cyprinus carpio koi.
– Giai đoạn nhiễm bệnh: Tất cả các giai đoạn phát triển của cá, phụ thuộc vào nhiệt độ và mùa vụ.
– Mùa vụ xuất hiện bệnh: Tỷ lệ mắc bệnh có thể lên đến 100% trong quần thể và tỷ lệ chết từ 70% đến 90%. Bệnh có liên quan đến nhiệt độ nước, ở nhiệt độ khoảng 160C đến 290C cá có nguy cơ nhiễm KHV cao hơn. Trong điều kiện thí nghiệm, tỷ lệ chết giảm ở nhiệt độ dưới 160C hoặc nhiệt độ trên 300C.
– Phương thức truyền lây: Virus KHV truyền lây theo chiều ngang, bệnh lây lan từ cá mắc bệnh hoặc cá nhiễm bệnh sang cá khỏe, từ môi trường nước và từ các vật chủ trung gian (các loài chim ăn cá có mang virus KHV vào vùng nuôi), virus xâm nhập qua da và mang, đến các cơ quan nội tạng (thận, gan, lá lách, mô ruột). Sau đó virus tấn công vào tế bào chất, nhân của tế bào vật chủ. KHV có khả năng tồn tại trong môi trường nước ít nhất 4 giờ.
Sử dụng thức ăn bảo đảm dinh dưỡng. Ảnh: ST
Dấu hiệu bệnh lý
Cá nhiễm virus KHV có dấu hiệu đầu tiên là ngạt thở, giảm ăn, bơi gần tầng mặt, mang và da cá có màu sắc nhợt nhạt, mang bị hoại tử, xuất huyết tơ mang, mắt lõm xuống, da mất nhớt, có thể bị hoại tử.
Gan, thận sưng to hơn bình thường, có thể bị xuất huyết, màu sắc các cơ quan nội tạng bất thường (nhạt hơn hoặc đậm hơn). Trong trường hợp cấp tính, cá chết rất nhanh mà không thể hiện dấu hiệu tổn thương cơ quan nội tạng.
Chẩn đoán xét nghiệm
Mẫu bệnh phẩm được xét nghiệm tại các Phòng thử nghiệm đủ năng lực quy định tại khoản 19, 20 và 21 Điều 1 Thông tư số 12/2024/TT-BNNPTNT.
Phòng bệnh
Bệnh do virus gây ra nên hiện chưa có thuốc điều trị, do vậy cần tập trung các biện pháp đảm bảo an toàn sinh học, nâng cao hiệu quả công tác phòng bệnh cho thủy sản.
– Người nuôi cần sử dụng con giống khỏe mạnh, nguồn gốc rõ ràng và được kiểm dịch theo quy định.
– Mật độ thả nuôi theo hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thủy sản, đảm bảo mật độ thích hợp cho cá phát triển tốt.
– Sử dụng lượng thức ăn vừa đủ, tránh dư thừa giúp giảm lượng chất thải trong ao nuôi, góp phần giảm ô nhiễm môi trường nước, hạn chế sự phát triển và truyền lây của tác nhân gây bệnh.
– Theo dõi sức khỏe cá hằng ngày (màu sắc, khả năng hoạt động, lượng thức ăn tiêu thụ; kiểm tra màu nước, các chỉ tiêu môi trường, sự xuất hiện của các yếu tố địch hại) để phát hiện sớm, xử lý kịp thời; có thể lấy mẫu định kỳ cá ở giai đoạn này để kiểm tra tác nhân gây bệnh trên mang, bóng hơi, gan, thận và cơ.
– Tăng cường chăm sóc, sử dụng thức ăn bảo đảm dinh dưỡng, bổ sung vitamin, khoáng chất, men tiêu hóa, chế phẩm sinh học… giúp nâng cao sức đề kháng cho cá.
– Chủ cơ sở nuôi cần theo dõi nắm thông tin về tình hình dịch bệnh xảy ra trong khu vực/vùng, tình hình dự báo thời tiết và cảnh báo dịch bệnh của cơ quan chuyên môn để có biện pháp chủ động phòng tránh dịch bệnh.
– Quản lý tốt môi trường nước trong ao/bể nuôi, thực hiện khử trùng định kỳ bằng hóa chất, chế phẩm được phép sử dụng theo khuyến cáo của nhà sản xuất hoặc hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thủy sản), đảm bảo an toàn dịch bệnh.
– Bố trí ao/bể trữ nước và xử lý khử trùng nước trước khi cấp cho ao nuôi; khử trùng nguồn nước trước khi thải ra ngoài môi trường.
– Sử dụng các dụng cụ riêng cho từng ao/bể/lồng, bè nuôi và thực hiện vệ sinh khử trùng sau mỗi lần sử dụng.
– Thực hiện các biện pháp an toàn sinh học khác trong quá trình nuôi như quản lý con người, động vật, phương tiện ra vào khu vực ao nuôi. Thực hiện vệ sinh, khử trùng khi ra, vào cơ sở. Có biện pháp ngăn chặn các vật chủ trung gian (các loài chim ăn cá) có thể mang tác nhân gây bệnh vào khu vực nuôi.
– Cá bệnh, cá chết và chất thải của ao/bể/lồng/bè bị bệnh phải được thu gom và xử lý kịp thời bằng vôi bột, hóa chất được phép sử dụng trong nuôi trồng thủy sản, theo đúng quy định của pháp luật và hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thủy sản hoặc thú y.
– Trường hợp ao/bể xảy ra bệnh ở vụ trước, cơ sở nuôi phải xử lý nước đảm bảo không còn mầm bệnh trước khi xả thải.
– Để xử lý môi trường nước, tăng sức đề kháng cho thủy sản, chỉ được sử dụng thuốc, hóa chất, chế phẩm sinh học trong Danh mục thuốc thú y dùng trong thú y thủy sản được phép lưu hành tại Việt Nam và theo hướng dẫn của nhà sản xuất hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành về thủy sản hoặc thú y.
Lê Loan