Lưu ý khi chuyển tôm sang ao thương phẩm

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Giai đoạn chuyển ao dễ phát sinh stress và biến động sức khỏe. Chuẩn bị môi trường đồng bộ, chọn đúng thời điểm và quản lý tốt ôxy, thức ăn sẽ giúp tôm nhanh thích nghi, giảm rủi ro.

Đồng bộ điều kiện giữa hai ao

Trong mô hình nuôi hai giai đoạn, ao ương và ao thương phẩm là hai mắt xích liên kết trong cùng một quy trình. Vì vậy, việc chuẩn bị ao thương phẩm cần được thực hiện trước khi chuyển tôm, nhằm hạn chế những thay đổi đột ngột về môi trường.

Ao thương phẩm cần hoàn thiện cải tạo và xử lý nước ít nhất 7 – 10 ngày trước thời điểm chuyển tôm để hệ vi sinh có lợi ổn định. Các chỉ tiêu như pH, độ kiềm, độ mặn, nhiệt độ, hàm lượng ôxy hòa tan và độ trong nên được duy trì tương đồng với ao ương. Chênh lệch lớn giữa hai hệ thống có thể khiến tôm bị sốc, giảm bắt mồi, kéo dài thời gian thích nghi và gia tăng nguy cơ phát sinh bệnh.

Chỉ nên chuyển khi đàn tôm khỏe mạnh, hoạt động linh hoạt. Ảnh: Tép Bạc

Hệ thống quạt nước, sục khí và hố thu chất thải cũng cần được vận hành trước khi tiếp nhận tôm để kiểm tra khả năng tạo dòng chảy, phân phối ôxy và hạn chế vùng nước tù. Với ao thâm canh, siêu thâm canh, việc gây màu nước và ổn định hệ vi sinh trước khi chuyển tôm cũng giúp giảm biến động môi trường trong những ngày đầu.

Chỉ chuyển khi đàn tôm đạt yêu cầu

Trong thực tế, nhiều cơ sở áp dụng cố định thời gian ương từ 20 – 25 ngày rồi tiến hành chuyển tôm. Tuy nhiên, thời điểm chuyển nên căn cứ vào tình trạng sinh trưởng và sức khỏe của đàn tôm thay vì số ngày nuôi. Tốc độ sinh trưởng phụ thuộc vào chất lượng giống, nhiệt độ, dinh dưỡng và điều kiện môi trường nên cùng một thời gian ương, chất lượng đàn tôm có thể khác nhau.

Trước khi chuyển, cần đánh giá tỷ lệ sống, mức độ đồng đều kích cỡ, khả năng bắt mồi, phản xạ bơi lội và tình trạng gan tụy, đường ruột. Chỉ nên chuyển khi đàn tôm khỏe mạnh, hoạt động linh hoạt, đường ruột đầy thức ăn và không có các dấu hiệu bất thường như cong thân, đục cơ, mềm vỏ.

Thời điểm chuyển nên ưu tiên sáng sớm hoặc chiều mát, tránh nắng gắt và sau những cơn mưa lớn. Trước khi thả, cần thuần dần nhiệt độ, độ mặn giữa hai hệ thống để hạn chế sốc môi trường. Mật độ thả ở ao thương phẩm cũng phải được tính toán dựa trên diện tích, khả năng cung cấp ôxy và năng lực xử lý chất thải của ao.

Điều chỉnh ôxy theo sinh khối

Không nên duy trì một chế độ vận hành quạt nước trong suốt vụ nuôi, bởi nhu cầu ôxy thay đổi theo sinh khối tôm, lượng thức ăn và tải lượng chất hữu cơ.

Trong những ngày đầu sau chuyển, quạt nước chủ yếu tạo dòng chảy, phân bố ôxy và giúp tôm thích nghi với môi trường mới. Khi tôm tăng trưởng nhanh, lượng thức ăn và chất thải tăng, nhu cầu ôxy của cả tôm và hệ vi sinh phân hủy hữu cơ cũng tăng theo. Nếu công suất sục khí không được điều chỉnh kịp thời, đáy ao có thể xuất hiện vùng thiếu ôxy, tạo điều kiện hình thành vùng yếm khí và phát sinh NH₃, H₂S.

Do đó, thời gian và công suất vận hành quạt nước cần được điều chỉnh theo từng giai đoạn, gắn với lượng thức ăn hằng ngày. Hệ thống nên được bố trí để tạo dòng chảy tuần hoàn, gom chất thải về hố thu hoặc khu vực xi phông, đồng thời hạn chế vùng nước chết. Với ao mật độ cao, có thể kết hợp sục khí đáy hoặc các giải pháp tăng ôxy đáy để nâng hiệu quả phân hủy chất hữu cơ.

Tăng cường theo dõi sau chuyển

Khoảng 5 – 7 ngày sau khi chuyển là thời gian đàn tôm chịu nhiều áp lực do phải thích nghi với môi trường mới. Đây cũng là giai đoạn dễ xuất hiện giảm bắt mồi, chậm lớn hoặc các vấn đề sức khỏe nếu môi trường biến động.

Trong thời gian này, cần tăng tần suất theo dõi hàm lượng ôxy hòa tan, pH, độ kiềm, NH₃ và NO₂⁻. Đồng thời, kiểm tra sàng ăn ở từng cữ để đánh giá sức bắt mồi và điều chỉnh khẩu phần, tránh cho ăn theo lượng cố định. Khi tôm giảm ăn, cần kiểm tra các yếu tố môi trường trước khi sử dụng thuốc hoặc chế phẩm.

Quan sát hoạt động của tôm cũng giúp phát hiện sớm bất thường. Tôm tập trung quanh quạt nước, bơi lờ đờ, nổi đầu vào sáng sớm hoặc có đường ruột không đầy thức ăn đều có thể là dấu hiệu đàn tôm đang chịu tác động từ môi trường. Phát hiện và xử lý sớm sẽ hạn chế nguy cơ hao hụt trong những tuần tiếp theo.

Kiểm soát thức ăn trong giai đoạn chuyển

Sau khi chuyển từ ao ương sang ao thương phẩm, tôm cần thời gian để thích nghi với môi trường mới nên sức bắt mồi thường chưa ổn định. Do đó, không nên áp dụng ngay khẩu phần tính theo sinh khối dự kiến hoặc tăng lượng thức ăn quá nhanh, bởi thức ăn dư thừa sẽ làm gia tăng tải lượng hữu cơ và tạo thêm áp lực cho môi trường đáy ao.

Trong 1 – 2 ngày đầu, nên giảm khoảng 10 – 20% lượng thức ăn so với mức tính toán, đồng thời chia khẩu phần thành nhiều cữ để tôm dễ tiếp cận và tiêu hóa. Lượng thức ăn cần được điều chỉnh dựa trên kết quả kiểm tra sàng ăn, sức bắt mồi, tình trạng đường ruột và tốc độ tăng trưởng của đàn tôm, thay vì duy trì theo một lịch cố định.

Cùng với việc kiểm soát lượng thức ăn, cần hạn chế thay đổi thức ăn ngay trước và sau khi chuyển ao. Nếu đang sử dụng một loại thức ăn ở giai đoạn ương, không nên chuyển ngay sang công thức hoặc kích cỡ viên khác khi tôm vừa được đưa sang ao thương phẩm. Việc thay đổi đồng thời môi trường sống và khẩu phần có thể khiến tôm giảm bắt mồi, kéo dài thời gian thích nghi và ảnh hưởng đến sức khỏe đường ruột. Trường hợp cần thay đổi, nên thực hiện từng bước sau khi đàn tôm đã ổn định.

Khi tôm bước vào giai đoạn tăng trưởng nhanh, lượng thức ăn sẽ tăng đáng kể, kéo theo nhu cầu ôxy và áp lực xử lý chất thải. Vì vậy, khẩu phần cần được tăng từng bước, phù hợp với khả năng tiếp nhận của đàn tôm và năng lực xử lý của hệ thống. Không nên tăng thức ăn chỉ dựa vào thời tiết thuận lợi hoặc việc tôm bắt mồi tốt trong một vài cữ, mà cần kết hợp đánh giá ôxy hòa tan, NH₃, NO₂⁻ và tình trạng đáy ao.

Nguyễn Hằng

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài