(TSVN) – Sau những vụ nuôi thử nghiệm trên vùng đất lúa nhiễm phèn, mặn, ông Tăng Văn Xúa (phường Khánh Hòa, TP Cần Thơ) quyết định đầu tư nuôi tôm công nghệ cao. Từ 1.000 m² ban đầu, vùng nuôi được phát triển lên khoảng 13 ha, vận hành theo hướng khép kín và chủ động từ ương giống đến xử lý, tái sử dụng nước.
Khoảng năm 1999, gia đình ông Tăng Văn Xúa chủ yếu canh tác lúa trên vùng đất nhiễm phèn, mặn. Tuy nhiên, năng suất lúa thấp khiến ông nhận thấy cây lúa khó mang lại hiệu quả kinh tế. Sau khi đề xuất chuyển sang nuôi tôm nhưng chưa nhận được sự đồng từ địa phương, ông quyết định dành khoảng 1.000 m² để tự thử nghiệm nuôi tôm sú.
Vụ đầu tiên, ông thu được 400 kg tôm, bán với giá 176.000 đồng/kg. Kết quả này tạo thêm động lực để ông tiếp tục theo nghề. Đến năm 2000, diện tích nuôi tăng lên 4 ha và năm 2011 đạt khoảng 6 ha.
Một ao diện tích khoảng 1.000 – 1.600 m² có thể thu 3 – 5 tấn tôm thương phẩm mỗi vụ. Ảnh: Cựu Chiến binh Việt Nam
Những năm đầu, ông chủ yếu nuôi tôm sú theo phương thức truyền thống. Kinh nghiệm còn hạn chế, trong khi thời tiết và dịch bệnh thường tác động đến kết quả. Qua từng vụ nuôi, ông dần thay đổi cách làm, chú trọng hơn đến môi trường và các biện pháp phòng ngừa rủi ro.
Bước chuyển rõ nét diễn ra từ năm 2016, khi ông chuyển sang tôm thẻ chân trắng và đầu tư hệ thống nuôi công nghệ cao. Ngay năm đầu, ông thực hiện 3 vụ, lợi nhuận đạt hơn 1 tỷ đồng. Từ kết quả này, hệ thống tiếp tục được hoàn thiện, trong đó diện tích dành cho xử lý nước được đầu tư tương xứng thay vì chỉ tập trung vào ao nuôi.
Đến nay, vùng nuôi của ông có khoảng 13 ha, chủ yếu nuôi tôm thẻ chân trắng theo hướng công nghệ cao. Các ao có diện tích khoảng 1.000 – 1.600 m², mỗi ao cho sản lượng khoảng 3 – 5 tấn/vụ. Theo ông Xúa, mỗi vụ nuôi có thể mang lại lợi nhuận khoảng 2 – 3 tỷ đồng.
Gần một thập kỷ chuyển đổi, kinh nghiệm tích lũy qua từng vụ nuôi giúp ông hình thành cách vận hành phù hợp với điều kiện thời tiết, mùa vụ và sức khỏe tôm. Trong đó, quản lý nguồn nước là một khâu được chú trọng, với hệ thống xử lý và tuần hoàn được bố trí ngay trong vùng nuôi.
Nguồn cấp được xử lý tại ao lắng trước khi đưa vào khu nuôi. Khi môi trường có dấu hiệu biến động, phần thải được chuyển sang ao xử lý để lắng cặn, sau đó qua khu nuôi cá rô phi rồi trở lại hệ thống. Cách vận hành này giúp giảm nhu cầu cấp mới và hạn chế lượng thải ra môi trường.
Cá rô phi được nuôi tại các ao xử lý nước, tận dụng một phần thức ăn dư và chất hữu cơ, qua đó giảm tải cho hệ thống. Khi cải tạo, cá được thu hoạch để bán, tạo thêm nguồn thu. Có thời điểm, sản lượng cá rô phi từ khu vực này đạt hàng chục tấn/năm.
Bên cạnh đó, ông kiểm soát kỹ chất lượng con giống và thức ăn. Trước mỗi vụ, các chỉ tiêu môi trường, độ mặn và một số khoáng chất được đánh giá để bảo đảm điều kiện thả nuôi. Trong quá trình nuôi, khẩu phần điều chỉnh theo sức ăn của tôm và thời tiết. Khi mưa lớn hoặc tôm giảm bắt mồi, lượng thức ăn được giảm, thậm chí bỏ một cữ để hạn chế thức ăn dư thừa.
Hiện, quy trình được chia thành hai giai đoạn ương và nuôi thương phẩm. Tôm giống được thả với mật độ khoảng 2.200 con/m², ương trong 20 – 25 ngày trước khi chuyển sang ao nuôi. Khi đó, mật độ giảm còn khoảng 235 con/m². Sau khoảng 75 ngày, tôm đạt cỡ thương phẩm và bắt đầu được thu hoạch.
Trong giai đoạn nuôi, mật độ tiếp tục được điều chỉnh theo mùa. Mùa nghịch, ông thường duy trì 100 – 120 con/m²; mùa thuận có thể tăng lên 150 – 200 con/m². Với ao khoảng 1.000 m², sản lượng đạt 3 – 5 tấn/vụ. Tôm được thu tỉa từ khoảng tháng thứ hai và tiếp tục đến tháng thứ tư.
Không chỉ tập trung cho vùng nuôi, gia đình ông Xúa còn tham gia cung ứng một số vật tư, dịch vụ cho người nuôi trong khu vực. Bên cạnh đó, ông cũng hỗ trợ một số hộ nuôi gặp khó khăn về vốn thông qua hình thức cung cấp giống, thức ăn và thanh toán sau thu hoạch.
Thanh Hiếu