(TSVN) – Theo dõi môi trường nước từ xa, kiểm soát mật độ nuôi và chủ động phòng ngừa rủi ro đang giúp người nuôi cá tại Phú Thọ cải thiện hiệu quả sản xuất, từng bước chuyển từ kinh nghiệm sang quản lý dựa trên dữ liệu.
Phú Thọ có tiềm năng, lợi thế lớn về diện tích mặt nước sông, hồ, đầm. Trên địa bàn có 3 sông lớn chảy qua là sông Hồng, sông Đà, sông Lô cùng nhiều sông, ngòi khác như sông Bứa, sông Chảy, sông Cà Lồ; sông Phan, sông Đáy, ngòi Lao, ngòi Giành, ngòi Me với gần 5.000 hồ, đập lớn nhỏ.
Thời gian qua, các hộ nuôi thủy sản ngày càng mạnh dạn ứng dụng khoa học, kỹ thuật, đầu tư chuyển sang nuôi thâm canh và bán thâm canh. Nhiều loài cá giống mới, có giá trị kinh tế cao, cho năng suất tốt được đưa vào sản xuất. Các hình thức nuôi ngày càng phong phú, đa dạng như nuôi ao, hồ, bể, nuôi lồng.
Mô hình nuôi cá “sông trong ao” cho phép tăng mật độ cá trong bể lên khoảng 10 lần so với hình thức nuôi thông thường. Ảnh: Báo Phú Thọ
Điển hình như ông Kim Đình Úp ở xã Tề Lỗ. Năm 2019, được hỗ trợ kinh phí, kỹ thuật từ ngành thủy sản địa phương, ông đã đầu tư mô hình nuôi cá “sông trong ao”. Mỗi bể nuôi rộng 100 m², chi phí đầu tư gần 1 tỷ đồng. Đối tượng nuôi chủ yếu là cá nheo, cá bò và trắm đen, những loài có giá trị kinh tế cao.
So với hình thức nuôi thông thường, mô hình cho phép tăng mật độ cá trong bể lên khoảng 10 lần. Việc nuôi trong bể giúp người nuôi chủ động quản lý thức ăn, theo dõi đàn cá và hạn chế rủi ro do mưa to, gió lớn gây vỡ lồng, thất thoát thủy sản.
Hai bể nuôi của gia đình ông Úp cho sản lượng khoảng 70 – 80 tấn cá mỗi năm, với 1 – 2 lứa thu hoạch. Cá nheo thương phẩm đạt trọng lượng phổ biến 8 – 15 kg/con, có con vượt 20 kg. Nhờ lựa chọn thời điểm thu hoạch vào tháng Giêng, khi nguồn cá từ ao hồ giảm, giá bán có thể cao hơn 10 – 15% so với mức thông thường. Sau khi trừ chi phí, gia đình thu lãi khoảng 200 – 300 triệu đồng/năm.
Một hướng ứng dụng công nghệ khác được triển khai tại hộ ông Phùng Văn Trọng, thôn Nhật Chiêu 2, xã Liên Châu. Năm 2024, với sự hỗ trợ của Trung tâm Khuyến nông tỉnh, gia đình đầu tư hệ thống cảm biến và máy sục khí ôxy cho mô hình nuôi cá “sông trong ao” trên diện tích 3 ha.
Hệ thống cảm biến giúp cập nhật các thông số môi trường như ôxy, pH và nhiệt độ nước trên điện thoại thông minh. Nhờ đó, người nuôi có thể theo dõi diễn biến chất lượng nước thuận tiện hơn, kịp thời nhận biết những thay đổi bất lợi để điều chỉnh biện pháp quản lý.
Kết hợp thiết bị giám sát với quy trình chăm sóc phù hợp, đàn cá của gia đình ông Trọng duy trì sinh trưởng tương đối ổn định trong điều kiện thời tiết diễn biến phức tạp. Sau 3 tháng nuôi, tỷ lệ sống đạt hơn 82,7%, trọng lượng bình quân gần 2 kg/con. Năm 2025, hiệu quả kinh tế của mô hình cao hơn 50 triệu đồng so với phương thức nuôi truyền thống.
Hai mô hình cho thấy ứng dụng khoa học, kỹ thuật trong nuôi cá có thể bắt đầu từ những nhu cầu cụ thể: kiểm soát mật độ, quản lý thức ăn, theo dõi chất lượng nước và hạn chế thiệt hại do thời tiết. Tuy nhiên, mức đầu tư và giải pháp kỹ thuật cần phù hợp với quy mô, đối tượng nuôi cũng như khả năng quản lý của từng hộ.
Đối với hệ thống cảm biến, thiết bị chỉ phát huy hiệu quả khi người nuôi hiểu ý nghĩa các thông số và có biện pháp xử lý phù hợp khi môi trường biến động. Trong khi đó, mô hình “sông trong ao” đòi hỏi vốn đầu tư, nguồn điện và quy trình vận hành tương ứng.
Thời gian tới, địa phương sẽ tiếp tục đẩy mạnh chuyển giao khoa học, kỹ thuật, hướng dẫn người nuôi ứng dụng công nghệ phù hợp với điều kiện thực tế. Những mô hình mang lại hiệu quả sẽ được đánh giá, hoàn thiện quy trình để từng bước nhân rộng, góp phần khai thác tốt tiềm năng mặt nước, nâng năng suất, hiệu quả kinh tế và thúc đẩy nghề nuôi thủy sản phát triển ổn định, bền vững.
Nguyễn An