Ngăn chặn tích lũy hữu cơ trong ao nuôi

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Chất hữu cơ phát sinh từ thức ăn thừa, xác tảo và sinh vật chết có thể tích tụ ở nước và đáy ao, làm tăng tiêu hao ôxy, phát sinh khí độc, ảnh hưởng đến sức khỏe thủy sản. Thu gom kịp thời, hạn chế nguồn phát sinh và duy trì điều kiện ao nuôi ổn định giúp giảm rủi ro trong suốt vụ nuôi.

Nguyên nhân

Trong ao nuôi thủy sản, đặc biệt là ao nuôi thâm canh sử dụng thức ăn công nghiệp giàu đạm và phốt pho, thức ăn thừa và chất thải của thủy sản là hai nguồn làm gia tăng chất hữu cơ trong nước và đáy ao. Ngoài ra, xác tảo, sinh vật chết và chất bài tiết của vật nuôi cũng góp phần làm tăng lượng hữu cơ.

Thức ăn thừa và chất thải sau khi thải ra môi trường sẽ được vi sinh vật phân hủy. Khi sinh khối vật nuôi tăng, lượng chất thải cũng tăng theo. Nếu lượng phát sinh vượt khả năng thu gom và phân hủy, chất hữu cơ sẽ tích tụ, nhất là ở khu vực dòng chảy yếu, vùng nước tù và quanh nơi cho ăn. Hữu cơ tích tụ ở đáy tiếp tục phân hủy, tiêu tốn ôxy và có thể tạo ra các chất bất lợi khi đáy ao thiếu ôxy.

Sử dụng chế phẩm sinh học hỗ trợ phân hủy chất hữu cơ, hạn chế phát sinh khí độc đáy ao. Ảnh: Báo Nông nghiệp và Môi trường

Sinh khối tảo cũng là một nguồn hữu cơ đáng kể trong ao. Tảo liên tục sinh trưởng và chết, trong đó phần sinh khối chết được vi sinh vật phân hủy. Khi tảo phát triển quá dày rồi suy tàn đồng loạt, lượng vật chất hữu cơ phát sinh tăng nhanh, khiến quá trình phân hủy tiêu thụ nhiều ôxy. Một phần xác tảo có thể lắng xuống đáy, làm tăng tích tụ hữu cơ và tiếp tục tạo áp lực lên chất lượng nước.

Xác tôm, cá và các sinh vật khác trong ao cũng là nguồn bổ sung chất hữu cơ. Nếu không được thu gom kịp thời, xác chết sẽ phân hủy ngay trong nước và đáy ao, làm tăng lượng hữu cơ và tiêu hao ôxy. Sau những đợt môi trường biến động, lượng sinh vật chết có thể tăng, khiến lượng chất hữu cơ trong ao tăng nhanh hơn và gây thêm áp lực lên chất lượng nước.

Bên cạnh đó, chất hữu cơ còn có thể theo nguồn nước bên ngoài và tích tụ từ bùn đáy. Đất, lá cây, cỏ và các vật chất thực vật theo nước mưa chảy vào ao có thể làm lượng hữu cơ tăng nhanh, nhất là sau mưa lớn. Với ao nuôi nhiều vụ, lớp bùn còn lại từ vụ trước chứa phân, xác tảo và chất thải cũng là nguồn hữu cơ cần được xử lý, kiểm soát ngay từ đầu vụ.

Tác động

Tạo điều kiện cho tảo độc phát triển: Trong ao nuôi, khi lượng chất thải hữu cơ tích lũy nhiều sẽ tạo điều kiện cho tảo độc phát triển. Lúc này, các loại tảo lam sẽ phát triển mạnh thay thế cho các loại tảo có lợi gây ảnh hưởng xấu đến môi trường nước ao nuôi.

Tích lũy khí độc: Khi chất hữu cơ tích tụ nhiều trong ao, quá trình phân hủy diễn ra mạnh và tiêu tốn nhiều ôxy. Nếu đáy ao thiếu ôxy, quá trình phân hủy có thể tạo ra các chất độc như NH3 và H2S. Nếu nồng độ các chất này tăng cao, cá, tôm dễ bị stress, giảm ăn, hoạt động bất thường, thậm chí có thể chết nếu kéo dài.

Giảm hàm lượng ôxy hòa tan: Ôxy hòa tan (DO) trong nước cần thiết cho quá trình hô hấp của cá, tôm và nhiều sinh vật khác trong ao. Khi chất hữu cơ tích tụ, quá trình phân hủy của vi sinh vật làm gia tăng nhu cầu ôxy, khiến hàm lượng ôxy hòa tan suy giảm. Nếu tình trạng này kéo dài, thủy sản có thể giảm ăn, hoạt động kém, nổi đầu, tập trung ở khu vực có nhiều ôxy và tăng nguy cơ thiếu ôxy, nhất là vào ban đêm hoặc sáng sớm.

Duy trì môi trường ao ổn định giúp hạn chế tích tụ chất hữu cơ

Ô nhiễm môi trường: Chất hữu cơ tích tụ nhiều có thể làm suy giảm chất lượng nước và nền đáy ao, đồng thời thúc đẩy quá trình phân hủy, phát sinh các sản phẩm phân hủy và khí độc. Nước thải có tải lượng hữu cơ cao nếu xả ra ngoài mà không xử lý phù hợp có thể làm gia tăng ô nhiễm nguồn nước và ảnh hưởng đến môi trường xung quanh.

Gây bệnh, suy giảm sức khỏe: Sự gia tăng chất hữu cơ gây ảnh hưởng đến chất lượng nước và đáy ao, khiến cá, tôm dễ bị stress, giảm ăn, chậm lớn và sức đề kháng giảm. Môi trường nhiều chất thải cũng tạo điều kiện cho vi khuẩn gây bệnh phát triển, làm tăng nguy cơ xuất hiện các bệnh như đen mang, mòn đuôi, cụt râu ở tôm nước lợ; hoại tử vây, tổn thương da, mang và các vấn đề về mắt ở cá nước ngọt.

Dấu hiệu

Dấu hiệu tích lũy hữu cơ có thể được nhận biết qua những thay đổi ở nước, nền đáy và trạng thái của thủy sản. Ở ao có lượng hữu cơ cao, màu nước có thể biến động nhanh, độ trong giảm hoặc xuất hiện nhiều vật chất lơ lửng. Váng và bọt cũng có thể xuất hiện nhiều hơn, nhất là sau các đợt tảo suy giảm mạnh, khi lượng sinh khối tảo chết làm tăng vật chất hữu cơ trong ao.

Khi xi phông, nếu thu được nhiều phân, thức ăn dư, xác tảo hoặc lớp bùn có màu sẫm và mùi bất thường, đây là dấu hiệu cho thấy chất hữu cơ đang tích tụ. Những khu vực có lớp bùn dày, màu đen hoặc xuất hiện mùi trứng thối cần được chú ý, vì có thể liên quan đến điều kiện phân hủy yếm khí và sự hình thành H2S.

Các thông số môi trường cũng giúp nhận biết sớm những bất thường. DO xuống thấp, nhất là vào sáng sớm, cho thấy lượng ôxy tiêu hao trong ao đang tăng. NH3 và NO2- ở mức cao cần được lưu ý khi chất hữu cơ phân hủy nhiều, làm gia tăng tải lượng các hợp chất chứa nitơ. H2S thường gắn với điều kiện thiếu ôxy và phân hủy yếm khí ở nền đáy. pH dao động lớn cũng là dấu hiệu cần theo dõi khi quần thể tảo thay đổi mạnh.

Ở tôm, dấu hiệu thường thấy là sức ăn giảm hoặc không ổn định, đường ruột không đầy, tôm phân bố bất thường và hoạt động kém. Khi chất lượng nước suy giảm nghiêm trọng, tôm có thể tập trung ở khu vực có dòng nước hoặc ôxy cao, thậm chí nổi đầu, dạt bờ vào thời điểm sáng sớm. Mang tôm có thể xuất hiện chất bám hoặc sẫm màu khi môi trường nhiều chất lơ lửng và hữu cơ.

Giải pháp

Nguồn nước cấp có thể đưa thêm chất hữu cơ và chất rắn lơ lửng vào ao, làm gia tăng tải hữu cơ trong quá trình nuôi. Vì vậy, nên lựa chọn nguồn nước có chất lượng phù hợp, ít chất rắn lơ lửng và được xử lý trước khi cấp vào ao nuôi.

Bên cạnh đó, người nuôi cần điều chỉnh khẩu phần theo sức ăn thực tế của tôm, theo dõi lượng thức ăn còn lại và giảm lượng cung cấp khi tôm bắt mồi kém do thời tiết hoặc môi trường biến động. Theo dõi hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) cũng giúp nhận biết tình trạng sử dụng thức ăn kém hiệu quả và nguy cơ gia tăng lượng chất thải.

Song song đó, chất thải đã phát sinh cần được thu gom thay vì để toàn bộ phụ thuộc vào quá trình phân hủy tự nhiên. Định kỳ xi phông giúp loại bỏ phân, thức ăn thừa và các chất lắng ở đáy, nhất là những khu vực thường tập trung chất thải. Xác tôm, cá, xác tảo hoặc vật chất hữu cơ có kích thước lớn cần được thu gom sớm. Với ao lót bạt, cần chú ý các góc ao, khu vực quanh sàng ăn và những vị trí dòng chảy yếu, nơi chất thải dễ tích tụ.

Quạt nước, sục khí được bố trí để tạo dòng gom chất thải về khu vực có thể thu gom, đồng thời hạn chế hình thành vùng nước tù. Khi lượng hữu cơ tăng hoặc xảy ra hiện tượng tảo suy giảm mạnh, cần tăng cường theo dõi DO, đặc biệt vào ban đêm và sáng sớm.

Sau mưa hoặc khi màu nước thay đổi bất thường, cần kiểm tra lại các chỉ tiêu môi trường và sức ăn của tôm trước khi điều chỉnh khẩu phần. Đồng thời, hạn chế nước mưa cuốn đất, lá cây và chất hữu cơ từ bờ vào ao.

Ngoài ra, sử dụng chế phẩm sinh học bổ sung vào thức ăn có thể hỗ trợ tiêu hóa, cải thiện khả năng sử dụng dinh dưỡng của tôm, cá. Với các sản phẩm dùng để xử lý môi trường, một số chủng vi sinh có khả năng phân hủy chất hữu cơ, góp phần giảm tích tụ bùn đáy và hạn chế sự hình thành các hợp chất gây độc trong ao. Hiệu quả phụ thuộc vào chủng vi sinh, liều sử dụng và điều kiện môi trường.

Nguyễn Hằng

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài
error: Content is protected !!