Đổi mới công nghệ, mở hướng phát triển thủy sản Quảng Ninh

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Trong hai ngày 2-3/10, đoàn công tác của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia do ông Hoàng Văn Hồng, Phó Giám đốc Trung tâm làm trưởng đoàn, đã kiểm tra tiến độ, đánh giá hiệu quả một số mô hình khuyến nông trên địa bàn thành phố Quảng Ninh.

Đoàn đã trực tiếp kiểm tra hai mô hình ứng dụng công nghệ enzyme trong sản xuất, chế biến sản phẩm từ mực gắn với liên kết tiêu thụ tại phường Uông Bí và đặc khu Vân Đồn. Đây là các mô hình thuộc dự án phát triển sản phẩm chế biến từ mực, nhằm nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm và thu nhập cho người dân ven biển.

Công nghệ enzyme nâng giá trị mực nguyên liệu

Qua kiểm tra, các mô hình bước đầu cho thấy hiệu quả trong ứng dụng công nghệ enzyme vào chế biến. Sản phẩm chả mực sau khi đưa ra thị trường nhận được phản hồi tích cực từ khách hàng và có đầu ra tương đối ổn định.

Tại Hợp tác xã Sản xuất Nước mắm Nam Hải (phường Uông Bí), đơn vị đầu tiên được chuyển giao công nghệ, ông Trần Quốc Đạt, Giám đốc hợp tác xã cho biết, cán bộ, công nhân của đơn vị đã được tập huấn và làm chủ quy trình sản xuất. Từ kiểm soát nhiệt độ, thời gian xử lý, tỷ lệ enzyme đến công đoạn tạo gel và kiểm soát an toàn thực phẩm, các khâu trong quy trình đều được thực hiện theo yêu cầu kỹ thuật của công nghệ được chuyển giao.

Đến cuối tháng 9/2026, hợp tác xã đã sản xuất 2,1 tấn chả mực ứng dụng công nghệ enzyme, vượt kế hoạch ban đầu 1,4 tấn/năm. Sản phẩm được khách hàng ưa chuộng về hương vị và hiện được tiêu thụ ổn định tại các bếp ăn công nghiệp. Doanh thu của hợp tác xã tăng khoảng 20%/năm.

Từ kết quả của mô hình này, Công ty TNHH Thanh Tùng Vân Đồn với thương hiệu Hải sản BOSA đã tiếp nhận chuyển giao công nghệ để sản xuất chả mực theo hướng nhân rộng.

Hiện doanh nghiệp duy trì sản lượng khoảng 20-30 kg/ngày, chủ yếu tiêu thụ trực tiếp tại Nhà hàng BOSA Thái Bình Dương của doanh nghiệp. Sau khi hoàn thiện quy trình và hồ sơ chất lượng, doanh nghiệp dự kiến trong tháng 10 sẽ sản xuất sản phẩm để thương mại trên thị trường.

Đưa công nghệ xử lý nguyên liệu bằng enzyme vào sản xuất hàng hóa. Ảnh: TTKNQG

Theo TS. Bùi Thị Thu Hiền, Chủ nhiệm dự án, Trưởng phòng Nghiên cứu Công nghệ sau thu hoạch, Trung tâm Nghiên cứu Hải sản phía Bắc, Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam, việc đưa công nghệ enzyme vào sản xuất chả mực xuất phát từ yêu cầu thực tế trong khai thác và chế biến nguồn nguyên liệu này.

Mực xà, mực đại dương có sản lượng lớn nhưng giá nguyên liệu còn thấp, khoảng 40.000-50.000 đồng/kg do thịt cứng và có vị chát. Vì vậy, việc chế biến sâu để nâng giá trị nguồn nguyên liệu là vấn đề đặt ra đối với sản xuất.

Công nghệ enzyme giúp khắc phục những hạn chế về độ cứng và vị chát của mực, đồng thời vẫn giữ được giá trị dinh dưỡng, tạo độ giòn, dai phù hợp để chế biến chả mực.

Một điểm đáng chú ý là công nghệ này tạo khả năng phát triển sản phẩm chả mực ở phân khúc giá phù hợp với nhiều đối tượng người tiêu dùng. Nếu chả mực giã tay truyền thống thuộc phân khúc cao cấp, có giá khoảng 550.000-600.000 đồng/kg, thì chả mực ứng dụng công nghệ enzyme có thể được sản xuất với giá khoảng 200.000-400.000 đồng/kg.

Mức giá này mở thêm khả năng tiêu thụ sản phẩm tại các bếp ăn tập thể, trường học và những nhóm khách hàng có nhu cầu sử dụng sản phẩm chả mực với giá phù hợp hơn.

Lồng HDPE tăng sức chống chịu cho nuôi biển

Cùng trong chương trình kiểm tra, đoàn công tác Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đã khảo sát mô hình nuôi cá song (cá mú trân châu) bằng lồng HDPE trên biển đạt chứng nhận VietGAP, gắn với tiêu thụ sản phẩm tại đặc khu Vân Đồn.

Mô hình được triển khai tại Hợp tác xã Nuôi trồng và Dịch vụ Thủy sản Thắng Lợi. Các hộ tham gia được hỗ trợ con giống, thức ăn và vật tư phục vụ sản xuất. Việc sử dụng lồng HDPE là điểm đáng chú ý của mô hình, bởi loại vật liệu này có độ bền và khả năng chịu lực cao, qua đó tăng khả năng chống chịu của hệ thống nuôi trước sóng gió, bão lớn và điều kiện thời tiết bất lợi.

Ông Long Văn Thắng, Phó Giám đốc Hợp tác xã Nuôi trồng và Dịch vụ Thủy sản Thắng Lợi chia sẻ, mô hình bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn phương thức nuôi truyền thống. Tỷ lệ cá sống cao, trong khi việc kiểm soát và sử dụng thức ăn cũng hiệu quả hơn.

Thực tế sau bão Yagi năm 2024 cho thấy khả năng chống chịu của lồng HDPE. Theo ông Thắng, nhiều lồng gỗ truyền thống tại khu vực nuôi bị hư hỏng, thậm chí bị phá hủy, trong khi các lồng HDPE vẫn không bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, chi phí đầu tư ban đầu đang là trở ngại lớn đối với quá trình chuyển đổi. Một ô lồng HDPE kích thước 4×4 m có giá khoảng 100 triệu đồng, trong khi lồng gỗ truyền thống chỉ khoảng 10-15 triệu đồng/ô.

Đoàn công tác của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia kiểm tra mô hình nuôi cá song tại khu nuôi biển Tây Hoi, đặc khu Vân Đồn. Ảnh: TTKNQG

Chênh lệch vốn đầu tư lớn khiến nhiều hộ chưa thể chuyển đổi toàn bộ hệ thống lồng trong một lần. Theo bà Nguyễn Thị Ngần, Trung tâm Khuyến nông và Quản lý bảo vệ, phát triển rừng thành phố Quảng Ninh, địa phương đang định hướng người dân chuyển đổi theo phương thức “cuốn chiếu”, phù hợp với khả năng tài chính của từng hộ.

Theo đó, sau mỗi vụ nuôi, khi có lợi nhuận, người dân có thể tiếp tục đầu tư thêm khoảng 4-6 lồng HDPE, từng bước thay thế lồng gỗ và phao xốp truyền thống.

Cách làm này vừa giảm áp lực về vốn đầu tư ban đầu, vừa giúp các hộ từng bước hoàn thiện hệ thống nuôi. Về lâu dài, hệ thống lồng HDPE còn tạo điều kiện để cơ giới hóa một số công đoạn như vệ sinh, rửa lồng, cho ăn, qua đó giảm lao động thủ công, tiết kiệm thời gian và nâng cao năng suất.

Đối với các hộ còn khó khăn về vốn, trung tâm khuyến nông khuyến khích tăng cường liên kết thông qua hợp tác xã, tổ hợp tác hoặc tổ đội sản xuất để cùng góp vốn đầu tư, chia sẻ hạ tầng và từng bước mở rộng quy mô nuôi.

Khuyến nông tạo động lực ứng dụng công nghệ

Đánh giá kết quả các mô hình, ông Hoàng Văn Hồng, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia nhấn mạnh, việc ứng dụng lồng HDPE trong nuôi cá song và công nghệ enzyme trong chế biến chả mực đang góp phần thay đổi tập quán sản xuất, giúp người dân tiếp cận quy trình kỹ thuật mới, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm thủy sản.

Theo ông Hồng, các chương trình, chính sách hỗ trợ khuyến nông đóng vai trò như “vốn mồi”, tạo động lực để người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, tiếp nhận và ứng dụng công nghệ mới; qua đó từng bước tối ưu chi phí đầu vào và nâng hiệu quả sản xuất.

Thời gian tới, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia sẽ tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn ngư dân chuyển dịch từ khai thác sang nuôi trồng thủy sản ven biển, gắn với ứng dụng công nghệ mới, thức ăn thế hệ mới, thiết bị hiện đại và công nghệ bảo quản, chế biến sâu.

Đây cũng được xác định là hướng góp phần giảm áp lực lên nguồn lợi thủy sản, đồng thời hỗ trợ thực hiện các giải pháp chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).

Nguyệt An

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài