(TSVN) – Cá chạch bùn cho kết quả khả quan khi thử nghiệmu nuôi thương phẩm trong ao đất tại Ninh Bình, với thời gian nuôi gần 4 tháng và năng suất đạt hơn 30 tấn/ha. Kết quả này mở thêm cơ sở đánh giá khả năng phát triển đối tượng này tại địa phương.
Cá chạch bùn (Misgurnus anguillicaudatus) là loài cá nước ngọt, có khả năng thích nghi với điều kiện ao đất. Tại Ninh Bình, đối tượng này được đưa vào nuôi thương phẩm thông qua mô hình thuộc Đề tài “Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá chạch bùn (Misgurnus anguillicaudatus) đạt năng suất và chất lượng cao tại tỉnh Ninh Bình”.
Mô hình được triển khai trên tổng diện tích 1,3 ha tại 4 điểm, gồm Trạm Thủy sản 1 (Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư) với quy mô 0,3 ha; hộ ông Ninh Văn Quyết, thôn Trung Đồng, xã Yên Từ, 0,5 ha; hộ ông Lâm Văn Sơn, xóm Khu Đông, xã Yên Khánh, 0,25 ha và hộ ông Phạm Kim Sơn, xóm 14, xã Khánh Nhạc, 0,25 ha.
Mô hình nuôi chạch bùn tại ao nuôi ở xã Yên Từ.
Các hộ tham gia được hỗ trợ con giống, thức ăn và hướng dẫn kỹ thuật thả nuôi, chăm sóc, phòng bệnh, quản lý môi trường ao. Trong quá trình nuôi, cá được cho ăn bằng thức ăn công nghiệp có hàm lượng đạm 40%, với khẩu phần 3 – 5% trọng lượng cá trong ao/ngày. Thời điểm cho ăn được điều chỉnh theo khả năng bắt mồi của cá.
Các chỉ tiêu nhiệt độ, ôxy hòa tan, pH và độ trong được kiểm tra thường xuyên. Định kỳ 2 lần/tháng, cá được kiểm tra tốc độ tăng trưởng và ước tính tỷ lệ sống để điều chỉnh lượng thức ăn. Chế phẩm sinh học cũng được sử dụng định kỳ nhằm duy trì chất lượng nước.
Theo thông tin từ các đơn vị triển khai được báo chí đăng tải, sau gần 4 tháng nuôi, tại điểm Yên Từ, cá đạt khối lượng trung bình 17,2 g/con, tỷ lệ sống 65%, sản lượng ước hơn 14 tấn. Tại Trạm Thủy sản 1, cá đạt 17,4 g/con, tỷ lệ sống 67%, sản lượng hơn 4,3 tấn.
Thu nhập từ nuôi cá chạch bùn thương phẩm cao hơn khoảng 1,5 – 2 lần so với một số loài cá truyền thống, trong khi thời gian nuôi ngắn hơn. Đây là cơ sở thực tế để tiếp tục đánh giá khả năng bố trí cá chạch bùn trong cơ cấu đối tượng nuôi nước ngọt tại địa phương.
Tuy nhiên, kết quả trên mới được ghi nhận tại các điểm triển khai của mô hình. Khi áp dụng ở quy mô rộng hơn, các yếu tố như nguồn giống, chi phí thức ăn, tỷ lệ sống và đầu ra sản phẩm vẫn cần được theo dõi qua nhiều vụ.
Với thời gian nuôi tương đối ngắn và kết quả bước đầu về năng suất, cá chạch bùn có thể được xem xét tại những diện tích ao đất nước ngọt phù hợp. Việc phát triển cần gắn với nguồn giống ổn định, quy trình kỹ thuật phù hợp và đánh giá hiệu quả qua nhiều vụ trước khi xác định quy mô.
Thanh Hiếu