(TSVN) – Dịch bệnh trên cá rô phi thường phát sinh khi môi trường nuôi biến động hoặc công tác quản lý chưa bảo đảm. Chủ động phòng bệnh, kết hợp quản lý môi trường và xử lý kịp thời sẽ góp phần hạn chế thiệt hại, duy trì năng suất và hiệu quả nuôi.
Trong thực tế sản xuất, dịch bệnh thường xuất hiện khi nhiều yếu tố bất lợi cùng tác động như mật độ nuôi quá cao, chất lượng nước suy giảm, hàm lượng ôxy hòa tan thấp, khí độc NH3 và NO2- tăng, thức ăn dư thừa hoặc thời tiết thay đổi đột ngột. Bên cạnh đó, việc sử dụng con giống không bảo đảm chất lượng, không được kiểm dịch hoặc vận chuyển, thả giống không đúng kỹ thuật cũng làm tăng nguy cơ phát sinh bệnh.
Ở giai đoạn cá bột và cá giống, cá rô phi thường mẫn cảm với các bệnh do ký sinh trùng và nấm vì hệ miễn dịch chưa hoàn thiện. Trong giai đoạn nuôi thương phẩm, bệnh do vi khuẩn lại chiếm tỷ lệ cao hơn, đặc biệt khi cá chịu stress kéo dài hoặc môi trường ao nuôi bị ô nhiễm. Những năm gần đây, nhiều vùng nuôi đã ghi nhận hiện tượng cá chết rải rác hoặc chết hàng loạt do các bệnh do Streptococcus và Aeromonas, gây thiệt hại đáng kể về năng suất và chi phí sản xuất.
Bệnh xuất huyết do Streptococcus: Đây là một trong những bệnh nguy hiểm nhất trên cá rô phi nuôi thâm canh. Tác nhân gây bệnh chủ yếu là vi khuẩn Streptococcus iniae và một số loài Streptococcus khác. Bệnh thường xuất hiện khi nhiệt độ nước cao, mật độ nuôi lớn, ôxy hòa tan thấp hoặc môi trường ao biến động mạnh.
Ở giai đoạn đầu, cá giảm ăn, bơi chậm, phản ứng kém với các tác động bên ngoài. Sau đó, cá xuất hiện các dấu hiệu như mắt đỏ hoặc lồi, gốc vây và nắp mang xuất huyết, hậu môn đỏ. Khi bệnh nặng, cá bơi xoay tròn, mất phương hướng do vi khuẩn tấn công hệ thần kinh. Mổ khám có thể thấy gan, thận, lách mềm nhũn, xuất huyết hoặc hoại tử.
Nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời, bệnh có thể lây lan nhanh trong ao nuôi, đặc biệt ở các hệ thống nuôi mật độ cao. Ngoài thiệt hại về tỷ lệ sống, bệnh còn làm giảm tốc độ tăng trưởng và chất lượng thương phẩm.
Bệnh viêm ruột do Aeromonas hydrophila: Aeromonas hydrophila là vi khuẩn Gram âm tồn tại phổ biến trong môi trường nước. Bình thường, vi khuẩn không gây bệnh, nhưng khi cá bị stress hoặc môi trường ao nuôi ô nhiễm, chúng sẽ phát triển mạnh và gây viêm ruột, xuất huyết nội tạng.
Cá mắc bệnh thường giảm ăn, bơi lờ đờ, màu sắc cơ thể sẫm hơn bình thường. Hậu môn sưng đỏ, xuất huyết, bụng trướng. Khi mổ khám, ruột chứa nhiều hơi hoặc dịch, thành ruột viêm và sung huyết. Một số trường hợp còn xuất hiện xuất huyết dưới da và ở gốc các vây.
Bệnh thường liên quan đến đáy ao tích tụ nhiều chất hữu cơ, thức ăn dư thừa hoặc nguồn nước ô nhiễm. Đây là bệnh cơ hội nên việc cải thiện môi trường nước luôn là giải pháp quan trọng song song với điều trị.
Bệnh trùng bánh xe: Trùng bánh xe thuộc họ Trichodinidae là nhóm ký sinh trùng phổ biến trên cá rô phi giống. Chúng ký sinh trên da, vây và mang, làm tổn thương biểu mô và cản trở quá trình hô hấp của cá.
Khi mới nhiễm bệnh, cá tiết nhiều nhớt, da xỉn màu và thường nổi thành đàn gần mặt nước. Cá có hiện tượng cọ mình vào thành ao hoặc vật thể trong nước do ngứa. Khi mật độ ký sinh trùng tăng cao, mang bị tổn thương nghiêm trọng, cá nổi đầu, bơi không định hướng, giảm ăn và có thể chết nếu không được xử lý.
Bệnh thường phát triển mạnh vào thời điểm giao mùa hoặc khi chất lượng nước kém, đặc biệt ở các ao ương cá giống có mật độ nuôi cao.
Bệnh nấm thủy mi: Nấm thủy mi thường xuất hiện trên cá bị xây xát, cá yếu hoặc sau khi vận chuyển, phân đàn. Biểu hiện đặc trưng là trên da, vây hoặc mang xuất hiện các đám nấm màu trắng xám giống bông gòn.
Nếu không xử lý sớm, nấm lan rộng làm tổn thương da, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và gây nhiễm trùng thứ phát. Bệnh thường gặp trong điều kiện nhiệt độ thấp, nước bẩn hoặc khi cá bị tổn thương cơ học.
Bệnh do virus TiLV (Tilapia Lake Virus): Là một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên cá rô phi. Virus có khả năng gây chết ở nhiều giai đoạn phát triển, đặc biệt là cá giống và cá thương phẩm nuôi với mật độ cao.
Cá mắc bệnh thường giảm ăn hoặc bỏ ăn, bơi lờ đờ, phản ứng chậm, tập trung gần bờ hoặc nổi đầu. Một số trường hợp xuất hiện da sẫm màu, mắt lồi, bụng trướng, mang nhợt hoặc xuất huyết nhẹ. Khi mổ khám có thể thấy gan sưng, nhợt màu hoặc xuất hiện các ổ hoại tử. Các dấu hiệu lâm sàng của TiLV khá giống nhiều bệnh khác nên cần xét nghiệm để khẳng định. Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu đối với TiLV.
So với nhiều đối tượng nuôi nước ngọt khác, cá rô phi có khả năng thích nghi rộng, chịu được sự biến động nhất định của nhiệt độ, độ mặn và chất lượng nước. Tuy nhiên, khả năng chống chịu này chỉ phát huy khi môi trường nuôi được duy trì ổn định và các yêu cầu kỹ thuật được thực hiện đầy đủ. Khi các yếu tố môi trường vượt quá ngưỡng thích nghi hoặc công tác quản lý chưa phù hợp, sức đề kháng của cá sẽ suy giảm, tạo điều kiện để mầm bệnh phát triển.
Trước hết, ao nuôi cần được cải tạo đúng quy trình sau mỗi vụ sản xuất. Toàn bộ nước phải được tháo cạn, chất thải và lớp bùn đáy tích tụ được loại bỏ, đặc biệt tại khu vực hố gom và cống thoát nước. Đối với ao đất, nên bón vôi với liều lượng phù hợp để cải thiện pH nền đáy và tiêu diệt một phần mầm bệnh còn tồn lưu. Bờ ao, cống cấp, cống thoát và hệ thống cấp nước cần được kiểm tra, sửa chữa trước khi bước vào vụ nuôi mới.
Nguồn nước cấp phải bảo đảm sạch, không bị ô nhiễm bởi nước thải sinh hoạt, công nghiệp hoặc nông nghiệp. Nếu có điều kiện, nên sử dụng ao lắng để xử lý nước trước khi đưa vào ao nuôi chính. Việc lọc nước đầu vào cũng góp phần hạn chế sinh vật mang mầm bệnh xâm nhập.
Con giống cần được mua từ cơ sở uy tín, có nguồn gốc rõ ràng và được kiểm dịch. Trước khi thả, cá cần được thuần nhiệt độ và các yếu tố môi trường nhằm giảm sốc. Không nên thả giống với mật độ vượt quá khả năng quản lý vì đây là yếu tố làm gia tăng nguy cơ phát sinh dịch bệnh.
Trong quá trình nuôi, cần theo dõi định kỳ các chỉ tiêu như nhiệt độ, pH, ôxy hòa tan, độ kiềm, NH3 và NO2- để kịp thời điều chỉnh khi có biến động. Đồng thời, duy trì màu nước phù hợp, hạn chế tích tụ chất hữu cơ và định kỳ xi phông chất thải đối với các ao nuôi thâm canh.
Thức ăn phải bảo đảm chất lượng, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của cá và được cho ăn đúng khẩu phần. Cho ăn dư thừa không chỉ làm tăng chi phí mà còn gây ô nhiễm môi trường, tạo điều kiện cho vi khuẩn và ký sinh trùng phát triển.
Bên cạnh đó, tăng cường các biện pháp an toàn sinh học như vệ sinh, khử trùng dụng cụ trước và sau khi sử dụng, không dùng chung vợt giữa các ao khi chưa khử trùng, thu gom và xử lý cá chết đúng quy định. Người và phương tiện ra vào khu nuôi cũng cần được kiểm soát nhằm hạn chế đưa mầm bệnh từ bên ngoài vào hệ thống.
Định kỳ bổ sung vitamin, khoáng chất và các chế phẩm hỗ trợ đường ruột theo hướng dẫn của nhà sản xuất giúp tăng cường sức đề kháng, đặc biệt trong giai đoạn giao mùa hoặc khi thời tiết diễn biến bất lợi.
Khi phát hiện cá giảm ăn, nổi đầu, bơi lờ đờ hoặc chết bất thường, người nuôi không nên vội sử dụng thuốc mà cần xác định nguyên nhân trước. Trước hết, cần kiểm tra các yếu tố môi trường như ôxy hòa tan, pH, nhiệt độ, NH3, NO2- và tình trạng đáy ao.
Nếu xác định nguyên nhân liên quan đến môi trường, cần thay nước khi điều kiện cho phép, tăng cường sục khí, giảm lượng thức ăn và xử lý môi trường theo đúng quy trình kỹ thuật. Trường hợp nghi ngờ bệnh truyền nhiễm, nên lấy mẫu gửi cơ quan chuyên môn hoặc phòng xét nghiệm để xác định chính xác tác nhân gây bệnh.
Đối với bệnh do ký sinh trùng ngoài da và mang, có thể sử dụng các loại thuốc hoặc hóa chất nằm trong danh mục được phép lưu hành theo đúng hướng dẫn sử dụng. Trong quá trình xử lý cần theo dõi chặt chẽ phản ứng của cá, bảo đảm đủ ôxy hòa tan và tránh gây sốc do thay đổi nồng độ hóa chất.
Đối với các bệnh do vi khuẩn, việc sử dụng kháng sinh chỉ nên thực hiện khi đã xác định đúng tác nhân gây bệnh và có hướng dẫn của cán bộ chuyên môn. Lạm dụng kháng sinh không chỉ làm giảm hiệu quả điều trị mà còn làm gia tăng tình trạng kháng thuốc và ảnh hưởng đến khả năng tiêu thụ sản phẩm.
Song song với điều trị, cần tăng cường quản lý môi trường, bổ sung dinh dưỡng hợp lý và duy trì điều kiện sống ổn định để giúp cá phục hồi nhanh hơn.
Đồng thời, phải tuân thủ đầy đủ thời gian ngừng sử dụng thuốc trước khi thu hoạch nhằm bảo đảm an toàn thực phẩm và đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Thái Thuận