(TSVN) – Thông tư số 33/2026/TT-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành ngày 4/8/2026 đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định quan trọng liên quan đến truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác, quản lý tàu cá, bảo vệ nguồn lợi thủy sản và số hóa thủ tục hành chính.
Hoàn thiện quy định truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác
Thông tư số 33/2026/TT-BNNMT sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung của Thông tư số 81/2025/TT-BNNMT về truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác.
Cụ thể, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sửa đổi, bổ sung một số quy định về ghi, nộp báo cáo, nhật ký khai thác thủy sản; xác nhận nguồn gốc thủy sản từ khai thác và chứng nhận sản phẩm thủy sản xuất khẩu. Theo nội dung sửa đổi, trường hợp hồ sơ là tài liệu bằng tiếng nước ngoài phải kèm bản dịch sang tiếng Việt, trừ tài liệu bằng tiếng Anh hoặc song ngữ có tiếng Anh. Tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ chịu trách nhiệm về tính chính xác của bản dịch; bản dịch phải được đóng dấu giáp lai hoặc ký nháy trên toàn bộ các trang.
Cùng đó, Thông tư cũng điều chỉnh trách nhiệm của các Trung tâm Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường vùng thuộc Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường. Các đơn vị này thực hiện xác nhận sản phẩm thủy sản xuất khẩu được chế biến từ nguyên liệu thủy sản khai thác, hoặc chứng nhận sản phẩm thủy sản xuất khẩu có nguồn gốc từ thủy sản khai thác nhập khẩu theo quy định của Ủy ban quốc tế về bảo tồn cá ngừ Đại Tây Dương, hoặc giấy tờ có nội dung tương đương theo yêu cầu của cơ quan thẩm quyền nước nhập khẩu hoặc tổ chức nghề cá khu vực.

Sửa đổi, bổ sung nhiều quy định mới lĩnh vực khai thác thủy sản. Ảnh: Báo Khánh Hòa
Hồ sơ đề nghị xác nhận, chứng nhận phải có Giấy chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác do cơ quan có thẩm quyền của nước có tàu cá mang cờ cấp. Đồng thời, tổ chức, cá nhân phải cung cấp đầy đủ thông tin theo mẫu quy định và chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin phục vụ việc xác nhận, chứng nhận.
Cơ quan có thẩm quyền sẽ đối chiếu thông tin về tàu đánh bắt, quốc gia có tàu mang cờ, khối lượng, chủng loại thủy sản trong giấy chứng nhận nguồn gốc. Với nguyên liệu nhập khẩu, việc kiểm tra tập trung vào khối lượng, chủng loại nguyên liệu dùng để chế biến xuất khẩu và thông tin về lô hàng nhập khẩu đã được kiểm tra nguồn gốc. Đối với nguyên liệu khai thác trong nước, thông tin được đối chiếu với Giấy xác nhận nguyên liệu thủy sản khai thác và Giấy chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác.
Ngoài ra, cơ quan chức năng sẽ kiểm tra sự phù hợp giữa nguyên liệu sử dụng với hồ sơ thống kê, hồ sơ giám sát sản xuất, chế biến, dữ liệu theo dõi trừ lùi, định mức sản phẩm và mức độ đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc.
Thông tư mới cũng đưa ra lộ trình cụ thể để chuyển sang nhật ký khai thác và nhật ký thu mua, chuyển tải thủy sản điện tử. Theo đó, nhật ký điện tử được áp dụng từ ngày 1/6/2027 đối với tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 15 m trở lên và từ ngày 1/9/2027 đối với tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 12 m trở lên.
Trong thời gian chuyển tiếp, tổ chức, cá nhân tiếp tục thực hiện theo quy định hiện hành. Nhật ký giấy vẫn được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận khi hệ thống điện tử bị hỏng, gặp sự cố kỹ thuật hoặc xảy ra trường hợp bất khả kháng theo quy định pháp luật.
Đối với hệ thống truy xuất nguồn gốc khai thác thủy sản điện tử, việc tàu cá rời cảng, cập cảng và cấp Giấy biên nhận sản phẩm thủy sản khai thác bốc dỡ được áp dụng từ ngày 1/3/2026; Giấy xác nhận nguyên liệu thủy sản khai thác áp dụng từ ngày 1/9/2026; Giấy chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác áp dụng từ ngày 1/1/2027. Bản giấy chỉ được cấp trong trường hợp bất khả kháng theo quy định của pháp luật dân sự hoặc theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân.
Hoàn thiện quy định về quản lý tàu cá
Thông tư số 33 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 02/2026/TT-BNNMT về đăng ký tàu cá, đăng kiểm tàu cá, cấp giấy phép khai thác thủy sản và quản lý tàu cá.
Cụ thể, Thông tư số 33 điều chỉnh nhiều quy định liên quan đến hồ sơ, trình tự giải quyết thủ tục hành chính trong đăng ký, đăng kiểm và cấp phép khai thác thủy sản; đồng thời sửa đổi các biểu mẫu sử dụng trong quá trình quản lý tàu cá để bảo đảm thống nhất với hệ thống cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia.
Ngoài ra, quy định mới cũng làm rõ trách nhiệm của cơ quan đăng ký, cơ quan quản lý cảng cá và chủ tàu trong việc cập nhật, lưu trữ và chia sẻ dữ liệu phục vụ công tác quản lý đội tàu, kiểm soát hoạt động khai thác cũng như truy xuất nguồn gốc thủy sản.
Bên cạnh việc sửa đổi các quy định chuyên môn, Thông tư số 33/2026/TT-BNNMT còn thay thế nhiều phụ lục, mẫu đơn, giấy xác nhận và giấy chứng nhận thuộc các thông tư được sửa đổi. Các biểu mẫu mới được thiết kế theo hướng chuẩn hóa dữ liệu, tăng khả năng khai thác trên môi trường điện tử và phù hợp với việc triển khai dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực thủy sản.
Các quy định mới này không chỉ tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp trong thực hiện thủ tục hành chính mà còn tăng cường khả năng kiểm soát nguồn gốc nguyên liệu, chuẩn hóa dữ liệu nghề cá và nâng cao hiệu quả thực thi các cam kết quốc tế về chống khai thác IUU.
Phạm Thu