(TSVN) – Năm 2026, Trung tâm Khuyến nông Thanh Hóa triển khai mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh ứng dụng công nghệ số, giảm phát thải gắn với tiêu thụ sản phẩm tại xã Tân Tiến và phường Ngọc Sơn, với sự tham gia của 2 hộ nuôi. Mô hình tập trung đưa thiết bị công nghệ vào những khâu quan trọng của quá trình sản xuất, từ quản lý thức ăn, kiểm soát các chỉ tiêu môi trường nước đến theo dõi sinh trưởng và sức khỏe tôm.
Điểm đáng chú ý là việc sử dụng máy cho ăn tự động điều khiển từ xa, giúp người nuôi chủ động hơn trong tổ chức sản xuất. Thiết bị phân phối thức ăn theo chế độ cài đặt, giảm sự phụ thuộc vào thao tác thủ công và hỗ trợ kiểm soát lượng thức ăn đưa xuống ao. Nhờ đó, người nuôi có điều kiện hạn chế tình trạng cho ăn dư thừa, giảm nguy cơ thức ăn tồn đọng gây ô nhiễm môi trường nước, đồng thời nâng cao độ chính xác trong quản lý ao nuôi.
Theo thông tin từ mô hình, việc ứng dụng máy cho ăn tự động có thể giúp tiết kiệm khoảng 20-30% chi phí sản xuất và giảm tới 50% chi phí nhân công. Thiết bị có thể vận hành liên tục, cho phép người nuôi điều khiển từ xa thông qua ứng dụng trên điện thoại di động mà không nhất thiết phải có mặt trực tiếp tại ao trong mỗi lần cho ăn.
Máy được thiết kế với thùng chứa bằng nhựa PP có khả năng chống chịu hóa chất và tia cực tím, chân máy làm từ thép không gỉ 304, phù hợp với điều kiện sử dụng tại ao nuôi. Hệ thống hai động cơ hỗ trợ phân phối thức ăn đồng đều trong phạm vi bán kính 7-9 m, góp phần hạn chế thức ăn rơi tập trung quanh vị trí đặt máy.
Tôm nuôi tại mô hình. Ảnh: TTKNQG
Bên cạnh quản lý thức ăn, mô hình chú trọng số hóa việc theo dõi chất lượng nước, một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tốc độ tăng trưởng của tôm. Thiết bị đo môi trường được sử dụng để hỗ trợ phân tích các chỉ tiêu gồm pH, độ kiềm, tổng nitơ amoni (TAN) và nitrit (NO₂). Kết quả được đọc thông qua ứng dụng trên điện thoại, giúp người nuôi thuận tiện hơn trong quá trình kiểm tra và theo dõi.
Khác với cách ghi chép, đối chiếu kết quả chủ yếu bằng phương pháp thủ công, hệ thống cho phép lưu trữ dữ liệu gắn với từng ao nuôi, thời điểm đo và người thực hiện. Người nuôi có thể xem lại, so sánh số liệu theo ngày, tuần hoặc tháng, qua đó nhận biết xu hướng biến động của môi trường nước và trao đổi thông tin với cán bộ kỹ thuật khi cần thiết. Dữ liệu cũng có thể được xuất thành tệp Excel hoặc PDF để phục vụ quản lý, tổng hợp và chia sẻ.
Thiết bị sử dụng công nghệ so màu kết hợp camera điện thoại để đọc kết quả, góp phần hạn chế sai số do đánh giá bằng mắt thường. Chức năng nhắc lịch đo định kỳ hỗ trợ người nuôi duy trì việc kiểm tra môi trường theo kế hoạch. Việc lưu trữ dữ liệu theo thời gian cũng tạo cơ sở để theo dõi diễn biến ao nuôi có hệ thống hơn, thay vì chỉ dựa vào quan sát tại từng thời điểm.
Cùng với ứng dụng máy móc, mô hình tăng cường hướng dẫn các hộ nuôi quan sát quá trình sinh trưởng, kiểm tra sức khỏe tôm và ghi nhận những thay đổi trong ao. Sự kết hợp giữa thiết bị công nghệ và theo dõi thực tế giúp người nuôi có thêm thông tin phục vụ điều chỉnh quy trình chăm sóc, quản lý thức ăn và môi trường phù hợp với tình hình sản xuất.
Sau 115 ngày nuôi, mô hình ghi nhận sản lượng 11 tấn trên diện tích 0,25 ha, tương đương năng suất 44 tấn/ha. Tỷ lệ sống của tôm đạt trung bình 85%; kích cỡ thu hoạch trung bình 28 g/con, tương đương khoảng 36 con/kg. Hiệu quả kinh tế đạt trên 700 triệu đồng sau khi trừ chi phí.
Thông qua mô hình, Trung tâm Khuyến nông Thanh Hóa hướng tới thúc đẩy phương thức nuôi tôm thâm canh theo hướng hiện đại, quản lý dựa trên dữ liệu và giảm tác động đến môi trường. Việc tiếp tục hướng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ người nuôi làm chủ thiết bị và gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm sẽ là những yếu tố quan trọng để phát huy hiệu quả của hướng đi này trong thời gian tới.
Bình Nguyên