T2, 06/07/2020 12:31

Vai trò của hỗ trợ tài chính đối với hộ kinh doanh trong lĩnh vực khai thác thủy sản ở Việt Nam

Chưa có đánh giá về bài viết

Hỗ trợ hộ kinh doanh khai thác thủy sản là hỗ trợ từ bên ngoài cho hộ khai thác thủy sản hay chính là hộ ngư dân khai thác thủy sản. Chủ thể hỗ trợ có thể kể đến là: Chính phủ, hiệp hội thủy sản và doanh nghiệp; trong đó, Chính phủ có vai trò đặc biệt quan trọng (hay là trợ cấp). Trợ cấp là một khoản tiền do Chính phủ trả cho các doanh nghiệp hoặc gia đình mà không cần nhận lại một sản phẩm hoặc dịch vụ nào.

Hỗ trợ hộ ngư dân khai thác thủy sản 

1, Hỗ trợ chi phí đầu vào

Chí phí đầu vào (chi phí sản xuất) là toàn bộ những chi tiêu cần thiết trong quá trình sản xuất. Trong một doanh nghiệp, muốn hoạt động có hiệu quả  thì doanh thu (do bán hàng) phải lớn hơn chi phí sản xuất.

Trong hoạt động khai thác thủy sản, chi phí chuyến biển là chi phí sản xuất của con tàu trong một chuyến biển. Chi phí một chuyến biển thường được tính theo 5 yếu tố:

– Chi phí nguyên vật liệu: nguyên liệu, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ dùng cho hoạt động của chuyến biển

– Chi phí nhân công: bao gồm toàn bộ chi phí phải trả cho người lao động về tiền công, tiền lương, tiền ăn, bảo hiểm…

– Chi phí KH TSCĐ: là toàn bộ các khoản trích khấu hao TSCĐ trong chuyến biển.

– Chi phí dịch vụ mua ngoài: gồm các khoản chi phí phải trả cho công ty điện thoại, chi phí sửa chữa, chi phí đậu cảng…

– Chi phí khác bằng tiền: bao gồm các chi phí sản xuất kinh doanh khác chưa được phản ánh trong các chi tiêu trên nhưng đã chi bằng tiền trong chuyến biển như: tiếp khách, lệ phí…

Trong các loại chi phí trên thì chi phí về nguyên, nhiên, vật liệu chủ yếu trên tàu là nhiên liệu (xăng, dầu…) và nước đá. Các chi phí này chiếm một tỷ trọng tương đối lớn trong mỗi chuyến đi biển. Theo kết quả hạch toán chi phí sản xuất: nhiên liệu chiếm 80% chi phí, đá lạnh chiếm 15% (trong đó đá lạnh phụ thuộc vào 90% giá điện) và 5% còn lại là các chi phí khác. Như vậy, việc tăng giá xăng, dầu, điện quyết định đến 90% chi phí mỗi chuyến đi biển.

Vì vậy, việc Nhà nước hỗ trợ ngư dân thông qua giảm giá xăng, dầu, điện có vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện cho ngư dân nâng cao hiệu quả khai thác mỗi chuyến đi biển.

2, Hỗ trợ vay vốn mua sắm, đóng mới, nâng cấp tàu thuyền, mua sắm trang thiết bị ngư lưới cụ

Các tàu khai thác thủy sản hiện nay đa phần đều là tàu vỏ gỗ, điều này gây nhiều trở ngại cho hoạt động đánh bắt xa bờ, nhất là ảnh hưởng đến thời gian bám biển và độ an toàn trong khai thác. Máy của tàu đa số là máy Nhật, Mỹ, số tàu lắp máy đã qua sử dụng gần 90%. Việc sử dụng máy cũ tuy có tiết kiệm được vốn đầu tư ban đầu nhưng chi phí nhiên liệu lại cao, mức độ an toàn trên biển thấp do sự cố máy hỏng gặp phải. Đa phần các tàu có trang thiết bị hàng hải nhưng mức độ không đồng đều, 100% có la bàn, 90% có trang bị máy bộ đàm tầm ngắn liên lạc giữa các tàu với nhau, 15% có trang bị máy bộ đàm liên lạc tầm xa giữa các tàu với bờ, một số nhỏ có trang bị hệ thống định vị vệ tinh.

Hiện nay tàu vỏ sắt được coi là bền hơn và có tuổi thọ gấp 3 lần (tới 30 năm) so với tàu gỗ. Tàu vỏ sắt chạy nhanh hơn, cơ động hơn, bền hơn. Đây là những chiếc tàu đòi hỏi vốn lớn, tự thân các hộ ngư dân khó có khả năng. Muốn nâng cấp thiết bị cũng cần Nhà nước tài trợ mới có thể phát triển loại hình đánh bắt hiện đại này.

Do đó, Nhà nước cần hỗ trợ để ngư dân đóng mới và nâng cấp tàu thuyền cũng như mua sắm trang thiết bị hiện đại phục vụ cho khai thác thủy sản.

3, Hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ khai thác thủy sản

Hạ tầng quan trọng phục vụ khai thác thủy sản gồm: Hệ thống cảng cá, bến cá, chợ cá và khu neo đậu tránh trú bão.

Hiện nay, các cơ sở hạ tầng và dịch vụ hậu cần về cơ bản đều phục vụ cho tàu vỏ gỗ. Nếu khi phát triển đội tàu vỏ thép với số lượng lớn, cần tính đến bài toán tổng thể về chiến lược phát triển ngành thủy sản một cách đồng bộ. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là các trung tâm dịch vụ hậu cần là vấn đề rất bức xúc hiện nay. Đặc điểm của các công trình cơ sở hạ tầng phục vụ khai thác thủy sản là có tính chuyên dụng cao và cũng cần lượng vốn lớn. Vì vậy, khi hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, Nhà nước thường tập trung vào các hạng mục chính như: khu neo đậu tàu thuyền, khu tránh trú bão…

Trên thực tế, nhu cầu vốn xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ tạo thuận lợi cho người khai thác thủy sản thường lớn hơn khả năng đáp ứng của Nhà nước, vì thế phần nào cũng gây nên những áp lực tài chính cho Nhà nước. Do đó, các cơ quan nhà nước tại các địa phương có liên quan đến lĩnh vực này phải lập quy hoạch và xây dưng kế hoạch đầu tư dài hạn, trong đó ưu tiên các hạng mục cấp bách, mang lại nhiều lợi ích nhất cho người khai thác thủy sản.

4, Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho người khai thác thủy sản

Hỗ trợ đào tạo nâng cao trình độ kiến thức về pháp luật hàng hải, nghiệp vụ đi biển, sử dụng máy móc cho đội ngũ thuyền trưởng, máy trưởng và người lao động.

Hỗ trợ mở các lớp trang bị kiến thức về tìm hiểu ngư trường khai thác, cách khắc phục sửa chữa  máy tàu khi gặp các sự cố; cách cứu hộ, cứu nạn trên biển; cách điều khiển tàu chạy tránh bão; phương thức bảo quản thủy sản an toàn.

Hỗ trợ mở các lớp đào tạo nghề hậu cần đánh bắt như: đan lưới, chế biến thủy sản…góp phần cơ cấu lại nhóm nghề khai thác nhằm nâng cao giá trị kinh tế, đảm bảo tính bền vững trong khai thác, tạo thêm nhiều việc làm và tăng thu nhập cho ngư dân.

5, Hỗ trợ đầu tư nghiên cứu khoa học công nghệ

Các nghiên cứu khoa học công nghệ thường tập trung vào 3 mảng chính: nghiên cứu và cải tiến ngư cụ, kỹ thuật khai thác phục vụ sản xuất; nghiên cứu về các trang thiết bị phục vụ khai thác; nghiên cứu ứng dụng ngư cụ chọn lọc phục vụ cho công tác bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thủy sản. Những nghiên cứu này đã mang lại nhiều kết quả đáng kể khi ứng dụng vào thực tế sản xuất.

Tuy đạt được những thành tựu và kết quả quan trọng nhưng khai thác hải sản vẫn phải đang đối mặt với nhiều thách thức và tiềm ẩn những yếu tố kém hiệu quả và bền vững.

Lĩnh vực khai thác đang rất cần được hỗ trợ Ảnh: Việt Hương

Lĩnh vực khai thác đang rất cần được hỗ trợ Ảnh: Việt Hương

6, Hỗ trợ tiêu thụ đầu ra

Hoạt động thu mua hải sản ở nước ta bắt đầu manh nha từ những năm 1999 – 2000. Lúc bấy giờ một vài chủ vựa làm ăn khấm khá, bỏ vốn đóng tàu, chủ động ra tận ngoài khơi mua cá nhằm mục đích cạnh tranh với các chủ vựa khác. Lâu dần, số tàu này phát triển nhiều lên, nhất là gần đây khi mà giá xăng dầu và các loại nhu yếu phẩm, thực phẩm đều tăng cao, chủ tàu phải gánh vác các khoản chi phí rất cao. Nếu bảo quản hải sản bằng đá xay, thời gian bảo quản chỉ đảm bảo tối đa 10 ngày; trong khi, một chuyến đi biển đánh bắt xa bờ thường kéo dài 2 – 3 tháng. Do đó, nếu không vận chuyển vào bờ sớm, hải sản sẽ bị giảm chất lượng, giá bán thấp, không đủ tiêu chuẩn để xuất khẩu.

Vì vậy, việc hình thành những đội tàu và tàu thu mua hải sản trên biển được xem là giải pháp hợp lý chia sẻ gánh năng phí tổn cho hộ ngư dân. Nhà nước cần khuyến khích cũng như hỗ trợ họ phát triển các hình thức cung ứng dịch vụ theo hướng có lợi cho hộ ngư dân, phát triển các mô hình tàu dịch vụ đảm nhận từ khâu cung ứng nhiên liệu – thu mua – chế biến hải sản ngay trên biển nhằm nâng cao chất lượng hải sản.

Vai trò của hỗ trợ tài chính thể hiện trên các khía cạnh

Một là, tạo động lực giúp hộ ngư dân khai thác thủy sản vượt qua khó khăn trong nghề nghiệp, giảm nghèo đói.

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến nghèo đói, trong đó nguyên nhân cơ bản là thiếu vốn, thiếu kiến thức làm ăn. Do không đáp ứng đủ vốn, nhiều người rơi vào thế luẩn quẩn làm không đủ ăn, phải đi làm thuê hoặc chuyển sang nghề sinh kế khác. Mặt khác, do thiếu kiến thức làm ăn nên họ chậm đổi mới tư duy làm ăn, bảo thủ với phương thức làm ăn cũ, cổ truyền, không áp dụng kỹ thuật mới để tăng năng suất lao động làm cho sản phẩm làm ra kém hiệu quả. Thiếu kiến thức và kỹ thuật làm ăn là một lực cản lớn hạn chế việc tăng thu nhập và cải thiện đời sống hộ nghèo. Khi giải quyết được vấn đề vốn cho người nghèo góp phần mang lại hiệu quả thiết thực.

Theo các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực khai thác thủy sản, số lượng người nghèo chiếm tỷ lệ tương đối lớn, vì vậy vai trò của hỗ trợ tài chính càng có ý nghĩa quan trong hơn bao giờ hết.

Hai là, tạo điều kiện để hộ ngư dân khai thác thủy sản không phải vay vốn ngân hàng và các nậu vựa với lãi suất cao, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.

Khi ngư dân tiếp cận được với nguồn hỗ trợ sẽ làm họ có thêm vốn để trang trải các chi phí. Cụ thể, họ sẽ có tiền để đóng mới, nâng cấp tàu thuyền, mua sắm máy móc, trang thiết bị hiện đại, ngư lưới cụ nhằm thúc đẩy hoạt động khai thác có hiệu quả hơn.

Ba là, giúp hộ ngư dân khai thác thủy sản nâng cao kiến thức, tiếp cận thị trường.

Cung ứng vốn cho ngư dân theo chương trình, mục tiêu của Chính phủ thông qua kênh hỗ trợ lãi suất tín dụng có thu hồi vốn và lãi đã buộc người vay phải tính toán cẩn thận, chi tiết phương án kinh doanh của mình, làm sao tiết kiệm được chi phí, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Muốn làm được điều đó, họ phải tìm hiểu và học hỏi các biện pháp kỹ thuật mới, quản lý mới, từ đó tạo tính năng động sáng tạo trong lao động và tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm trong hoạt động khai thác. Đồng thời, sản phẩm làm ra được trao đổi thông qua thị trường đã giúp họ tiếp cận với kinh tế thị trường một cách trực tiếp.

Bốn là, góp phần trực tiếp vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn.

Đối với các nước đang phát triển thì vốn đầu tư có vai trò lớn trong tăng trưởng, nhất là khi nó lại bao hàm cả sự đổi mới về công nghệ và lao động. Việc phân bổ vốn đầu tư thông qua hỗ trợ tài chính làm thay đổi cơ cấu đầu tư khác nhau vào các ngành và kết quả của quá trình đầu tư ấy là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế không giống nhau. Việc hỗ trợ hộ ngư dân khai thác thủy sản sẽ làm thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đưa nền kinh tế Việt Nam tới một cơ cấu bền vững hơn.

ThS Hồ Thị Hoài Thu - Học viện Tài chính

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài
error: Content is protected !!