(TSVN) – Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ những tháng đầu năm 2026 giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước, đồng thời tiềm ẩn không ít thách thức về giá cả, cạnh tranh và chính sách thương mại trong thời gian tới.
Theo Báo cáo tình hình xuất nhập khẩu nông lâm thủy sản (Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường – Bộ Nông nghiệp và Môi trường), trong tháng 1/2026, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Hoa Kỳ đạt 128,4 triệu USD, tăng 20,2% so với cùng kỳ năm 2025. Tuy nhiên, xuất khẩu trong tháng 2 lại giảm, kéo theo giá trị xuất khẩu 2 tháng đầu năm giảm nhẹ so cùng kỳ năm 2025.
Hoa Kỳ tiếp tục là một trong những thị trường xuất khẩu chủ lực của thủy sản Việt Nam, chiếm khoảng 12,7% tổng kim ngạch toàn ngành, dù vậy, tỷ trọng này đã giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước.
Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu không có nhiều biến động lớn, trong đó tôm tiếp tục giữ vai trò chủ lực với tỷ trọng hơn 30%. Tháng 1/2026, kim ngạch xuất khẩu tôm đạt 40,5 triệu USD, tăng 12,8% so với cùng kỳ, nhưng giảm nhẹ so với tháng trước. Cá da trơn duy trì đà tăng trưởng ổn định, đạt 17,1 triệu USD, tăng cả theo tháng và theo năm. Ngược lại, cá ngừ lại có dấu hiệu suy giảm khi kim ngạch đạt 20 triệu USD, giảm 13,7% so với cùng kỳ năm 2025. Đây là nhóm hàng chịu tác động rõ nét từ biến động giá và cạnh tranh quốc tế.

Xuất khẩu cá tra sang thị trường Hoa Kỳ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định. Ảnh: ST
Đáng chú ý là mặt bằng giá xuất khẩu thủy sản sang Hoa Kỳ đang có xu hướng giảm. Giá xuất khẩu bình quân trong tháng 1/2026 chỉ đạt khoảng 8,2 USD/kg, giảm 9,3% so với cùng kỳ năm trước. Đặc biệt, giá cá ngừ giảm sâu tới hơn 27% theo năm, trong khi giá tôm và nhiều sản phẩm khác cũng đi xuống. Xu hướng này khiến giá trị xuất khẩu bị ảnh hưởng đáng kể, dù sản lượng có thể tăng.
Thị trường Hoa Kỳ tiếp tục duy trì nhu cầu nhập khẩu thủy sản lớn, với quy mô lên tới hàng chục tỷ USD mỗi năm. Tuy nhiên, đây cũng là nơi cạnh tranh ngày càng khốc liệt giữa các quốc gia xuất khẩu. Ecuador đã vươn lên trở thành nguồn cung tôm lớn nhất vào Hoa Kỳ, trong khi các quốc gia như Ấn Độ, Indonesia hay Thái Lan cũng không ngừng mở rộng thị phần. Lợi thế về giá và quy mô sản xuất đang khiến các đối thủ này tạo áp lực trực tiếp lên thủy sản Việt Nam, đặc biệt là mặt hàng tôm.
Bên cạnh đó, chính sách thương mại của Hoa Kỳ tiếp tục là biến số khó lường. Việc áp dụng mức thuế đối ứng toàn cầu từ 10 – 15% trong ngắn hạn có thể giúp giảm áp lực chi phí so với giai đoạn trước, song đồng thời cũng làm thu hẹp lợi thế cạnh tranh của Việt Nam so với các đối thủ. Trong khi đó, nguy cơ Mỹ quay lại áp dụng các biện pháp thuế riêng theo quốc gia hoặc siết chặt kiểm soát xuất xứ vẫn hiện hữu, tạo thêm rủi ro cho hoạt động xuất khẩu trong thời gian tới.
Ngoài yếu tố giá và cạnh tranh, doanh nghiệp thủy sản nước ta còn phải đối mặt với hàng loạt thách thức khác. Chi phí logistics có xu hướng tăng do bất ổn địa chính trị toàn cầu, đặc biệt là các điểm nóng như Trung Đông, kéo theo chi phí vận tải và bảo hiểm hàng hải tăng cao. Đồng thời, thị trường Hoa Kỳ ngày càng siết chặt các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững.
Để duy trì và mở rộng thị phần, ngành thủy sản cần tập trung nâng cao giá trị gia tăng, đa dạng hóa sản phẩm và tận dụng các phân khúc thị trường có nhu cầu ổn định. Đồng thời, việc chủ động thích ứng với các thay đổi về chính sách thương mại và tiêu chuẩn kỹ thuật.
Bảo Hân