(TSVN) – 4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu các sản phẩm nông, lâm, thủy sản của cả nước tiếp tục duy trì quy mô lớn với kim ngạch ước đạt 23,05 tỷ USD, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2025.
Trong khi đó, nhập khẩu của ngành nông nghiệp trong 4 tháng đầu năm đạt khoảng 17,4 tỷ USD, tăng 10,5%, đưa toàn ngành đạt mức thặng dư thương mại 5,649 tỷ USD, giảm 7,6% so với cùng kỳ năm trước. Riêng trong tháng 4/2026, thặng dư thương mại nông, lâm, thủy sản đạt 1,249 tỷ USD, giảm 32,3% so với cùng kỳ 2025.
Trung Quốc và Mỹ vẫn là hai thị trường xuất khẩu nông, lâm, thủy sản lớn nhất của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm, chiếm lần lượt 21% và 18% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành. Thị trường EU đứng thứ ba với khoảng 13%, tiếp đến là thị trường ASEAN 10%, Nhật Bản 7% và Hàn Quốc 3%.

Thủy sản tiếp tục là một trong những điểm sáng xuất khẩu của ngành nông nghiệp. Ảnh: ST
Về mức độ tăng trưởng, xuất khẩu sang Trung Quốc tăng mạnh 28,9%, đạt khoảng 6,5 tỷ USD; thị trường ASEAN tăng 9,7%; EU tăng 4,1%; Nhật Bản tăng 1,4%. Ngược lại, xuất khẩu sang Mỹ giảm 4,7% và Hàn Quốc giảm 11,3% so với cùng kỳ năm trước.
Về cơ cấu ngành hàng, thủy sản tiếp tục là một trong những điểm sáng của xuất khẩu nông nghiệp. Theo số liệu của Cục Hải quan, 4 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 3,544 tỷ USD, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, tôm vẫn là sản phẩm chủ lực, chiếm khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản; tiếp theo là cá da trơn với 18%, cá ngừ 7%, mực và bạch tuộc 6%, cua – ghẹ 3%…
Mặc dù vẫn có sự tăng trưởng tốt, tuy nhiên, ngành thủy sản đang đối mặt với nhiều rào cản kỹ thuật và áp lực thị trường. Tại Mỹ, các quy định liên quan đến truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và bảo vệ động vật biển như MMPA, FSMA 204, SIMP hay HACCP tiếp tục làm tăng chi phí tuân thủ và rủi ro thông quan cho doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.
Tại thị trường EU, các rào cản kỹ thuật tiếp tục tập trung vào chống khai thác IUU, truy xuất nguồn gốc, giám sát dư lượng và chứng thư xuất khẩu. Việc EU bắt buộc sử dụng hệ thống CATCH, áp dụng mẫu chứng nhận khai thác mới, triển khai Quy định EU 2023/2842 và siết yêu cầu về dư lượng/chất ô nhiễm buộc doanh nghiệp phải kiểm soát chặt hơn toàn bộ chuỗi cung ứng. Đáng chú ý, việc chậm cập nhật vùng nuôi, đối tượng nuôi sau sáp nhập địa danh đã gây ách tắc cấp chứng thư xuất khẩu, làm phát sinh tồn kho và khiến một số doanh nghiệp bị khách hàng EU hủy đơn hàng.
Còn tại thị trường Trung Quốc, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thủy sản trong quý II/2026 có thể chậm lại so với quý trước do yếu tố mùa vụ qua đi, phụ thuộc nhiều hơn vào nhu cầu tiêu dùng thực và khả năng duy trì thị phần của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh gia tăng.
Dù vậy, triển vọng cả năm của ngành thủy sản vẫn được đánh giá tích cực. Theo nhận định của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), nếu các vướng mắc về nguyên liệu, thị trường và thủ tục được tháo gỡ, kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2026 có khả năng vượt mốc 12 tỷ USD. Động lực tăng trưởng chính tiếp tục đến từ Trung Quốc và các thị trường châu Á, trong khi Mỹ và EU vẫn chịu tác động bởi các rào cản kỹ thuật và thương mại.
Phạm Thu