(TSVN) – Việc thương mại hóa trong khâu sản xuất tôm giống giúp người nuôi Ấn Độ từng bước thoát khỏi sự phụ thuộc vào nguồn tôm sú giống tự nhiên. Cùng với đó, giống tôm thẻ chân trắng cũng được nuôi với quy mô lớn, tạo nên bước phát triển vượt bậc của nghề nuôi tôm Ấn Độ.
Những năm 1980, người nuôi tôm sú tại Ấn Độ chủ yếu phụ thuộc vào nguồn giống tự nhiên. Để chủ động nguồn cung, nước này thành lập hai trại sản xuất tôm giống, đặt nền móng cho công nghệ sản xuất giống thương mại và tạo bước ngoặt cho ngành nuôi tôm.
Một là, chủ động nguồn tôm giống giúp sản lượng tôm nuôi của Ấn Độ tăng gấp 8 lần trong 18 năm từ cuối thập niên 1980 tới giữa những năm 2000, đạt 160.000 tấn/năm.
Hai là, từ năm 2009, nông dân Ấn Độ bắt đầu nuôi thương mại tôm thẻ chân trắng, một giống ngoại lai. Nhờ đó, nghề nuôi tôm tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ.
Nhóm nghiên cứu đã thu thập dữ liệu tại các trại sản xuất tôm thẻ chân trắng giống của Vaisakhi Marine Resources trong khoảng 12 năm, nhằm xác định mối tương quan giữa các dòng tôm bố mẹ với sản lượng tôm giống và hiệu suất nuôi thực tế. Từ đó, các nhà khoa học đã rút ra một số kinh nghiệm trong quy trình sản xuất tôm giống.
Đầu tiên, khu vực nuôi tôm bố mẹ được thiết kế biệt lập nhằm loại trừ nguy cơ lây nhiễm bệnh. Tôm bố mẹ đạt chuẩn sạch bệnh (SPF – Specific Pathogen Free) và đã vượt qua quy trình kiểm dịch tại cơ sở của Ấn Độ.
Thứ hai, khoảng 50% hoạt động sinh sản của tôm đến từ quá trình trưởng thành tự nhiên. Tuy nhiên, không phải tất cả các dòng tôm bố mẹ đều đáp ứng tốt với hình thức này, do đó biện pháp kích thích sinh sản nhân tạo thông qua kỹ thuật cắt cuống mắt vẫn được áp dụng.
Thứ ba, quy trình an toàn sinh học sau khi tôm sinh sản được thực hiện chặt chẽ. Trứng và ấu trùng (nauplius) được rửa sạch; tôm bố mẹ được kiểm tra sức khỏe định kỳ 2 lần/tuần nhằm phát hiện sớm mầm bệnh. Thức ăn tươi có nguồn gốc địa phương được khử trùng hoặc cấp đông trước khi sử dụng. Sau khi kết thúc vụ nuôi, ao được tháo cạn, để khô và khử trùng bằng kiềm, Chlorine.
Trong 12 năm, dự án đã theo dõi khoảng 25.000 cặp tôm bố mẹ thuộc 66 lô, với 20 dòng khác nhau. Kết quả cho thấy nguồn tôm bố mẹ có ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng tôm giống.
Vì vậy, khi lựa chọn tôm bố mẹ, nhóm nghiên cứu tập trung vào bốn yếu tố: (1) sản lượng ấu trùng do tôm bố mẹ sinh ra; (2) tỷ lệ sống của ấu trùng trong quá trình ương nuôi; (3) khả năng thích ứng của tôm bố mẹ với hình thức sinh sản tự nhiên; và (4) hiệu quả nuôi thương phẩm của tôm giống thuộc từng dòng tôm bố mẹ.
Trong đó, hiệu quả nuôi thương phẩm được đề cao nhất. Tuy nhiên, việc xác định chính xác yếu tố này gặp nhiều khó khăn do hiệu suất nuôi khác nhau theo mùa vụ và địa điểm ao nuôi. Bên cạnh đó, tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng thường có mối quan hệ đối nghịch.
Theo nhóm nghiên cứu, người nuôi thường ưu tiên các dòng tôm có sức đề kháng tốt, khả năng thích nghi cao. Vì vậy, các nhà sản xuất tôm giống tôn trọng lựa chọn của người nuôi, ngay cả khi phải chấp nhận giảm bớt sản lượng ấu trùng và hiệu suất ương nuôi.
Từ năm 2009 đến 2024, số trại tôm giống của Ấn Độ tăng từ 200 lên 600 trại. Các trại đang hoạt động mới đạt khoảng 60% công suất tối đa, nhưng đã sản xuất khoảng 90 tỷ con giống vào năm 2024. Cùng thời điểm, khoảng 90.000 cặp tôm bố mẹ đạt chuẩn SPF được nhập khẩu vào Ấn Độ.
Hoàng Hạnh
(Theo Aquaasiapac)