FAO dự báo mức tăng trưởng thương mại thủy sản toàn cầu sẽ giảm trong thập kỷ tới

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Theo báo cáo “Thực trạng Khai thác và Nuôi trồng Thủy sản Thế giới” (SOFIA) mới nhất từ Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản được cải thiện rõ rệt, cùng với nhu cầu tiêu dùng tăng vọt, đã thúc đẩy sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành thương mại thủy sản toàn cầu trong 50 năm qua. Tuy nhiên, đà tăng trưởng này sẽ giảm trong thập kỷ tới.

Trong số mới nhất của ấn phẩm SOFIA, FAO cho biết, vào năm 2024, tổng giá trị thương mại quốc tế các sản phẩm thủy sản với sự tham gia của 230 quốc gia và vùng lãnh thổ đạt 186 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu cá, loài giáp xác, loài thân mềm và các sản phẩm động vật thủy sinh khác chiếm 99% tổng giá trị, tương đương khoảng 184 tỷ USD. 2 tỷ USD còn lại đến từ tảo và các sản phẩm thủy sinh khác như bọt biển và vỏ sò.

Từ năm 1976 đến năm 2024, giá trị xuất khẩu thủy sản toàn cầu tăng trưởng với tốc độ bình quân hàng năm là 6,8%. Báo cáo chỉ ra rằng, sự tăng trưởng này được củng cố bởi những cải tiến trong công nghệ lưu trữ, bảo quản, vận tải, logistics và chế biến, cũng như giá cả cạnh tranh và các chính sách thương mại hiệu quả hơn.

Các quốc gia và khu vực xuất nhập khẩu hàng đầu

Năm 2024, châu Âu và châu Á tiếp tục giữ vững vị trí là các châu lục xuất khẩu dẫn đầu, lần lượt chiếm 38% và 34% tổng giá trị xuất khẩu. Tiếp theo là châu Mỹ Latinh và vùng Caribe (15%), Bắc Mỹ (6%), châu Phi (5%) và châu Đại Dương (2%).

Bên cạnh vị thế là nhà sản xuất thủy sản hàng đầu toàn cầu, Trung Quốc cũng là quốc gia xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới kể từ năm 2002. Vào năm 2024, doanh số từ thị trường quốc tế của quốc gia này ước đạt 20,1 tỷ USD, với các sản phẩm được vận chuyển đến hơn 180 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Na Uy là quốc gia xuất khẩu thủy sản lớn thứ hai với kim ngạch xuất khẩu kỷ lục 16 tỷ USD, tiếp theo là Việt Nam với giá trị thương mại đạt 10,5 tỷ USD và Ecuador đạt 9,2 tỷ USD.

Về phía nhập khẩu:

Liên minh Châu Âu (EU) tiếp tục là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất năm 2024, với giá trị hàng hóa nhập vào khối đạt 63,2 tỷ USD.

Hoa Kỳ là quốc gia nhập khẩu đơn lẻ lớn nhất thế giới khi chi 26,9 tỷ USD để mua sản phẩm từ nước ngoài, chiếm 15% lượng nhập khẩu toàn cầu.

Trung Quốc và Nhật Bản theo sau với tổng giá trị nhập khẩu lần lượt là 22 tỷ USD và 12,6 tỷ USD.

Các nhóm thủy sản thống trị thị trường

Cá thống trị thương mại toàn cầu khi chiếm tới 68% tổng giá trị. Loài giáp xác theo sau với 22%, và loài thân mềm cùng các loài động vật thủy sinh không xương sống khác đóng góp 11%.

Kể từ năm 2013, họ cá hồi là nhóm loài có giá trị thương mại cao nhất. Vào năm 2024, nhóm này chiếm 21% tổng giá trị – khoảng 38,1 tỷ USD. Các nhóm loài quan trọng khác tính theo giá trị xuất khẩu bao gồm:

Tôm các loại: chiếm 16% tổng giá trị, đạt 28,7 tỷ USD.

Cá ngừ: chiếm 10%, đạt 17,7 tỷ USD.

Cá tuyết, cá hake và cá haddock: chiếm 8%, đạt 15 tỷ USD.

Dự báo giai đoạn đến năm 2034 và những yếu tố bất định

Trong thập kỷ tới, báo cáo SOFIA dự kiến tỷ trọng xuất khẩu trên tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản vào năm 2034 sẽ ở mức 35% (30% nếu không tính thương mại nội khối EU), thấp hơn mức 36% của năm 2024. Sự sụt giảm trong tăng trưởng thương mại này phản ánh việc mở rộng sản xuất chậm lại, tiêu dùng nội địa tăng cao tại các nước sản xuất lớn và giá cả đắt đỏ hơn kìm hãm nhu cầu.

Biến động dự kiến sẽ bắt nguồn từ châu Á, khu vực sẽ chiếm khoảng 49% sản lượng xuất khẩu tăng thêm vào năm 2034. Trong khi đó, EU, Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản được dự báo vẫn là các thị trường nhập khẩu hàng đầu, tiêu thụ 50% tổng lượng nhập khẩu thủy sản phục vụ tiêu dùng (so với mức 52% vào năm 2024).

Về giá cả, báo cáo kỳ vọng giá các sản phẩm thủy sản khai thác và nuôi trồng sẽ tăng vừa phải đến năm 2034, do nhu cầu tiếp tục tăng, chi phí đầu vào cao hơn và tăng trưởng nguồn cung bị hạn chế. Giá sản phẩm nuôi trồng dự kiến sẽ tăng nhanh hơn một chút so với giá thủy sản khai thác tự nhiên, phản ánh chi phí thức ăn, năng lượng và chi phí tuân thủ quy định cao hơn. Giá bột cá và dầu cá dự kiến sẽ duy trì ở mức tương đối cao trong suốt giai đoạn này do nhu cầu mạnh mẽ từ ngành nuôi trồng thủy sản và dư địa mở rộng nguồn cung bị hạn chế.

Thừa nhận rằng dự báo của mình được xây dựng dựa trên các giả định về điều kiện kinh tế, khung chính sách, nguồn tài nguyên sẵn có và sự ổn định môi trường, FAO cảnh báo có thể tồn tại những sai lệch và dẫn đến kết quả khác.

Nguyên nhân gây ra sự bất ổn là diễn biến địa chính trị, thay đổi trong chính sách thương mại, biến động kinh tế vĩ mô và sự chuyển dịch trong hành vi của người tiêu dùng. Đặc biệt, biến đổi khí hậu và các dạng biến động khác đang đặt ra những rủi ro ngày càng lớn cho ngành khai thác và nuôi trồng thủy sản, với những tác động có xu hướng phân bổ không đồng đều giữa các khu vực và hệ thống sản xuất khác nhau.

Cảnh Dương
(theo Ceafoodsource)

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài