Nông nghiệp tích hợp và bền vững ở Malaysia

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Tại YHL Desaru, tinh thần khởi nghiệp tập trung vào việc sử dụng công nghệ sinh học và các đổi mới để xây dựng một mô hình kinh doanh nuôi tôm bền vững.

Từ hàu đến tôm thẻ chân trắng

Ông Low Yuan Heng, người sáng lập kiêm Giám đốc điều hành của YHL, đến với nghề nuôi tôm một cách tình cờ. Tốt nghiệp ngành khoa học thực phẩm tại Đại học Putra Malaysia, ông Low đã có một doanh nghiệp kinh doanh phụ gia thực phẩm ổn định trước khi được khuyến khích bắt đầu nuôi hàu vào năm 2010.

Vấn đề ông gặp phải khi khởi nghiệp nuôi hàu, là hàu cần được nuôi cấy trong tám tháng mới đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, trong khi dòng tiền dự kiến chỉ thu được sau ba năm. Để giải quyết khó khăn này, ông Low đã cân nhắc việc nuôi tích hợp thêm loài thủy sản khác và bước vào nghề nuôi tôm như một dự án bổ trợ cho việc nuôi hàu.

Khi muốn công ty lớn mạnh hơn, ông Low nhận định rằng cần duy trì được sự ổn định trong sản xuất thay vì chạy theo việc tăng sản lượng thông qua tăng mật độ nuôi.

Trước khi bắt đầu dự án, ông Low đã nghiên cứu các chính sách nuôi trồng bền vững, tham khảo công trình của Tiến sĩ Sarah J. Foster, một nhà khoa học bảo tồn biển, người đã cung cấp các hướng dẫn dựa trên khoa học cho nuôi trồng bền vững.

Ông Low áp dụng khẩu hiệu của mình, “Cứu lấy đại dương bắt đầu từ tôi”, khi thiết kế cơ sở hạ tầng và phát triển hoạt động nuôi tôm mật độ cao. Các ao nuôi đều được sục khí, nuôi cùng lúc hàu, động vật thân mềm hai mảnh vỏ và thực vật thủy sinh để lọc các chất hữu cơ. Toàn bộ nước thải được dẫn vào các ao chứa bùn và tràn liên tục vào sáu ao lắng. “Chúng tôi thả cá măng và cá rô phi để làm sạch nước và bổ sung lợi khuẩn. “

Dự án này được gọi là IMTA, với mục tiêu giải quyết vấn đề ô nhiễm trong nuôi trồng thủy sản, giảm ô nhiễm dinh dưỡng và hiện tượng phú dưỡng, đồng thời tái chế chất thải thành sinh khối có thể sử dụng được.

Tập ​​đoàn Phát triển Kinh tế Sinh học Malaysia (Bioeconomy Corporation), trực thuộc Bộ Khoa học, Công nghệ và Đổi mới (MOSTI), đã cấp chứng nhận BioNexus và công nhận là công ty thúc đẩy phát triển dựa trên sinh học (Bio-based Accelerator – BBA) cho công ty con Tropical Oyster của YHL và YHL Aquatics. Dự án này đã liên tục hỗ trợ YHL trong quá trình chuyển đổi và phát triển của họ.

Mở rộng và đổi mới

Việc xây dựng ao nuôi tôm bắt đầu vào năm 2017, bên cạnh cơ sở ươm giống hàu hiện có. Hệ thống lấy nước biển sâu 6 m và cách bờ 800 m, được YHL mua lại khi tiếp quản khu đất trước đây dành cho trại giống cá.

Trong giai đoạn đầu tiên trên diện tích 10 mẫu Anh (4 ha), diện tích ao là 0,1 ha; trong giai đoạn thứ hai và thứ ba, diện tích ao tăng lên 0,25 ha, và trong giai đoạn 4, hiện đang được tiến hành, ao có diện tích 0,4 ha với độ sâu 1,5-1,8 m. Hiện nay, trang trại của YHL ở Desaru có tổng cộng 67 ao nuôi với cửa xả trung tâm. Việc lót ao và bờ bằng bạt HPDE dày 1 mm là cần thiết đối với khu vực có nền đất cát, nhằm hạn chế thất thoát nước và nâng cao hiệu quả.

Mỗi giai đoạn sử dụng hệ thống lọc và bể chứa riêng. Trong giai đoạn một, mật độ thả giống là 200 con/m2 nhưng giảm dần ở các giai đoạn sau. Mật độ nuôi đạt 150 PL/m2 đối với ao nuôi trong các giai đoạn sau.

Năm 2024, trang trại nuôi tôm thẻ chân trắng của ông Low đạt sản lượng 945 tấn, với mục tiêu cho năm 2025 là 1.500 tấn. Ông cho biết, “Mỗi chu kỳ bao gồm năm lần thu hoạch một phần để đảm bảo nguồn cung 4-5 tấn mỗi ngày cho Kuala Lumpur, Johor Baru và Singapore. Người mua đánh giá cao việc giao hàng đều đặn hằng ngày. Vào tháng 10, giá bán tại trang trại là 19,50 MYR/kg (4,71 USD) cho tôm cỡ 70/kg và 29,50 MYR/kg (7,13 USD) cho tôm cỡ 30/kg. Giá thấp nhất cho tôm cỡ 70/kg trong năm 2025 là 15 MYR/kg. Khách hàng tìm mua tôm có kích thước 90-30 con/kg. Kích thước 25 con/kg là kích thước lớn nhất mà họ chấp nhận. Tôi tự hào về màu sắc của tôm nhà mình, đạt điểm 24 trên thang điểm khi đã nấu chín, phản ánh đặc điểm di truyền của chúng tôi. Chi phí sản xuất của chúng tôi vào khoảng 19,50 MYR (4,71 USD) và giá bán trung bình là 24,50 MYR (5,92 USD)”.

Đổi mới giai đoạn ương giống

“Năm 2020, sau khi hoàn thành giai đoạn thứ hai, chúng tôi phải đối mặt với một đợt bùng phát nghiêm trọng bệnh do vi bào tử trùng (EHP). Chúng tôi may mắn vì đã đưa giai đoạn ương giống vào quy trình nuôi trồng. Đó là mô hình 1:1, một ao ương giống 150m3 cho một ao nuôi thương phẩm 0,1ha.

Chúng tôi thả giống với mật độ 1.000 con/m2 trong ao ương. Với mật độ cao như vậy, tôi đã có thể phát hiện sự hiện diện của EHP ngay trong giai đoạn ương giống. Trong khi đó, nếu thả trực tiếp vào ao nuôi thương phẩm, các dấu hiệu nhiễm bệnh thường chỉ biểu hiện rõ sau khoảng 40 ngày nuôi.”

Ông Low nói thêm, “Chính vào thời điểm này, tôi đã tìm kiếm các giải pháp di truyền thay thế. Tại Phang-Nga, các nhà nghiên cứu tại Trung tâm Kỹ thuật Di truyền và Công nghệ Sinh học Quốc gia Thái Lan (BIOTEC) đã sử dụng di truyền học phân tử ở tôm để điều chỉnh các đặc điểm của tôm cho nuôi trồng thủy sản. Cùng nhau, chúng tôi đã thành lập công ty con YHLF Biotech (Thái Lan) và thiết lập một trung tâm nghiên cứu quốc gia.”

Chu kỳ nuôi bắt đầu với giống PL10 từ trại giống riêng của ông ở Mersing. Chu kỳ ương giống kéo dài 21-28 ngày, và thời gian nuôi thương phẩm là 75-84 ngày. Ông Low cho biết tỷ lệ sống sót khi thu hoạch dao động quanh mức 80%. “Chúng tôi quản lý tốt nhờ các quy trình vận hành hiệu quả. Tốc độ tăng trưởng trung bình hằng ngày của chúng tôi là 0,4g-0,5g, điều mà tôi cho là nhờ sử dụng tôm giống thẻ chân trắng dòng YHL-PHI TIK từ đàn tôm bố mẹ có tốc độ tăng trưởng nhanh, sức sống mạnh mẽ và khả năng kháng bệnh EHP được phát triển tại YHLF Biotech qua 49 thế hệ kể từ năm 2018.”

Ông Low giải thích, “Tôm giống được chuyển đến ao nuôi thương phẩm bằng đường ống và bể chứa, toàn bộ quá trình mất khoảng bốn giờ. Tỷ lệ hao hụt trong quá trình này được duy trì ở mức 1–2%. Các ao ương được bố trí rải đều trong khu nuôi. Trước khi chuyển ao và thu hoạch, tôm được bổ sung khoáng chất và astaxanthin nhằm giảm căng thẳng và nâng cao khả năng thích nghi với các thay đổi của môi trường nuôi.

Trang trại có 60 nhân viên vận hành ao nuôi, với cấu trúc quản lý ao nuôi theo thứ bậc thông thường, trong đó quản lý trang trại giám sát các giám sát viên ao nuôi. “Chúng tôi tuyển dụng kỹ thuật viên từ Sabah và Sarawak, cụ thể là sinh viên tốt nghiệp từ trường Cao đẳng Bách khoa Sandakan ở Sabah. Chúng tôi sử dụng máy cho ăn tự động, nhưng tôi nhận thấy tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) có thể dao động từ 1,2 đến 1,3 nhưng có thể lên đến 1,7-1,8 tùy thuộc vào trình độ kỹ thuật viên”.

Hoàng My

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài
error: Content is protected !!