(TSVN) – Cán cân thương mại nông lâm thủy sản tháng 3 ghi nhận xu hướng thu hẹp trong ngắn hạn dù vẫn duy trì mức xuất siêu cao trong quý I.
Theo số liệu tổng hợp, giá trị xuất khẩu nông lâm thủy sản tháng 3/2026 đạt 6,01 tỷ USD, trong khi nhập khẩu ước đạt trên 4,46 tỷ USD đã kéo theo thặng dư thương mại tháng 3 về mức khoảng 1,55 tỷ USD, giảm 19,3% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, tính chung 3 tháng đầu năm, xuất siêu toàn ngành vẫn đạt 4,78 tỷ USD, tăng 12%.
Diễn biến trái chiều giữa tháng và quý phản ánh áp lực gia tăng từ phía nhập khẩu và sự chững lại của xuất khẩu trong tháng 3 lĩnh vực nông lâm thủy sản. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu tháng 3 giảm nhẹ 1,5%, trong khi nhập khẩu tăng 6,6%, làm thu hẹp chênh lệch thương mại. Dù vậy, trong quý I, xuất khẩu toàn ngành vẫn tăng 5,9%, cao hơn mức tăng nhập khẩu (3,6%), qua đó giúp duy trì đà mở rộng thặng dư thương mại.

Xuất khẩu thủy sản ghi nhận tăng trưởng trong quý I/2026. Ảnh: ST
Quý I/2026 cũng ghi nhận sự phân hóa mạnh giữa các thị trường xuất khẩu chủ lực của các mặt hàng nông lâm thủy sản. Thị trường Trung Quốc tiếp tục là động lực tăng trưởng lớn nhất với kim ngạch tăng 37,6%, đồng thời nâng tỷ trọng lên 22% tổng xuất khẩu toàn ngành, EU tăng 5,7%, ASEAN tăng 8,5%, và Nhật Bản tăng nhẹ 0,7%. Ngược lại, thị trường Mỹ giảm 5,2% và Hàn Quốc giảm 15,5%, phản ánh nhu cầu suy yếu và các rào cản thị trường gia tăng.
Trong bức tranh chung, tăng trưởng xuất khẩu tiếp tục dựa vào một số ngành hàng chủ lực như: Rau quả tăng 32,1%, sản phẩm chăn nuôi tăng 54,3%, thủy sản tăng 13,3% trong 3 tháng đầu năm. Ở chiều ngược lại, một số ngành hàng có kim ngạch lớn suy giảm như: Cà phê giảm 6,4%, gỗ và sản phẩm gỗ giảm 3,5%, gạo giảm 7,8% về giá trị.
Thủy sản tiếp tục là một trong những trụ cột đóng góp vào thặng dư thương mại của ngành nông nghiệp. Quý I/2026, giá trị xuất khẩu thủy sản đạt 2,617 tỷ USD, tăng 13,3% so với cùng kỳ, mức tăng trưởng này đến từ nhu cầu ổn định tại Trung Quốc và một số thị trường châu Á.
Theo nhận định, triển vọng ngắn hạn của ngành này không hoàn toàn thuận lợi khi các doanh nghiệp đang đối mặt với nhiều khó khăn. Trong đó, chi phí logistics tăng cao do gián đoạn vận tải biển, đặc biệt từ xung đột Trung Đông khiến giá cước vận chuyển thủy sản xuất khẩu cao hơn, làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Cùng đó, các thị trường lớn như EU, Nhật Bản hay Hàn Quốc ngày càng siết chặt các tiêu chuẩn liên quan đến phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, chống khai thác bất hợp pháp (IUU) và truy xuất nguồn gốc.
Tuy nhiên, một số thị trường mới nổi như Brazil, Ấn Độ, Bangladesh hay khu vực Trung Đông vẫn duy trì nhu cầu đối với các sản phẩm thủy sản có giá cạnh tranh. Đây được xem là cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam gia tăng thị phần, đặc biệt trong bối cảnh các thị trường truyền thống tăng trưởng chậm.
Bảo Hân