(TSVN) – Căng thẳng địa chính trị, hàng rào thuế quan, biến đổi khí hậu và thói quen tiêu dùng chậm thay đổi đang đặt ngành tôm trước nhiều thách thức. Những vấn đề này được thảo luận tại Diễn đàn Tôm Toàn cầu 2026 vừa tổ chức đầu tháng 9 tại Hà Lan, cùng bài toán thích ứng bền vững.
Chưa đầy một tuần sau Diễn đàn Tôm Toàn cầu 2026 (Global Shrimp Forum – GSF 2026), cơn đau đầu thuế quan lại đe dọa ngành tôm Ấn Độ. Hai vị Thượng nghị sĩ Bill Cassidy và Cindy Hyde-Smith tái trình Luật thuế tôm Ấn Độ, nhằm tăng thêm thuế đối với tôm và tôm nước ấm nhập từ Ấn Độ.
Dự luật từng được đưa ra năm 2023 nhưng không được thông qua. Tuy nhiên, mới đây, Hiệp hội Tôm Louisiana lại tiếp tục nỗ lực kêu gọi lấy chữ ký để đề nghị Chính quyền Tổng thống Donald Trump đưa ra sắc lệnh hành pháp nhằm hạn chế số lượng tôm nhập khẩu, xu hướng bảo hộ ngành tôm là không thể phủ nhận.
Sự nhất quán của ông Donad Trump trong việc sử dụng công cụ thuế là một biến số quan trọng khác. Không chỉ Ấn Độ, các nước sản xuất tôm lớn khác trên thế giới buộc phải chuẩn bị cho những tình huống kém lạc quan.
Điều quan trọng hơn, Mỹ luôn là một trong hai quốc gia nhập khẩu tôm lớn nhất thế giới. Sự đứt gãy ở thị trường này sẽ làm rạn nứt cấu trúc ổn định của ngành hàng, dễ thấy nhất là cuộc đua giảm giá để tạo lợi thế chiếm lĩnh các thị trường khác.
Trớ trêu ở chỗ, nếu kịch bản này xảy ra, lợi nhuận vốn đang mỏng dần do chi phí tăng từ thức ăn tới khâu vận chuyển, logistics lại càng mỏng thêm nữa.
Đối với các nhà sản xuất tôm, vấn đề không chỉ nằm ở việc gia tăng sản lượng và tối ưu hóa chi phí. Thành công sẽ nằm ở đa dạng hóa thị trường và đáp ứng các hàng rào kỹ thuật ngày càng khắt khe của thị trường nhập khẩu.
Làm thế nào để người tiêu dùng châu Âu mua và ăn tôm thường xuyên hơn là một nội dung được thảo luận trong khuôn khổ GSF 2026.
Theo dữ liệu Circana, tại châu Âu, tôm chưa phải là thực phẩm thường xuyên trong bữa ăn. Khảo sát người tiêu dùng tại Pháp và Đức cho thấy, lần lượt 88% và 66% người tiêu dùng mua tôm ít nhất một lần mỗi năm. Vậy nhưng, chỉ 19% người mua tôm tại Pháp và 20% tại Đức sử dụng tôm ít nhất một lần mỗi tuần trong bữa ăn tại nhà.
Số liệu từ Circana chứng minh, giá vẫn là rào cản lớn nhất đối với việc tăng tần suất mua tôm. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, ngành tôm không nên quá phụ thuộc vào giảm giá, tìm kiếm khách hàng bằng giảm giá và khuyến mại quá mức.
Từ phía nhà sản xuất, tính bền vững là một phần quan trọng dẫn đến hành vi mua hàng của các nhà phân phối, bán lẻ. Theo dữ liệu của Circana, 98% nhà bán lẻ khảo sát coi bền vững là yếu tố quan trọng trong thu mua, 96,5% đang triển khai chiến lược mua hàng từ các nguồn có trách nhiệm xã hội và môi trường, và 92% kỳ vọng doanh số sản phẩm bền vững tăng nhanh hơn.
Tới thời điểm hiện tại, kim ngạch thương mại tôm vẫn tiếp tục được mở rộng. Đối với Ấn Độ, áp lực thuế quan khiến quốc gia này phải đa dạng hóa thị trường và điều đáng nói là, họ đã làm tốt việc này. Trong năm 2025, châu Âu, Trung Quốc, Việt Nam đều nhập khẩu nhiều tôm Ấn Độ hơn. Hàn Quốc, Nhật Bản, Nga đảm đương sản lượng còn lại, khiến cú hụt chân do thuế quan của thị trường Mỹ được bù đắp. Kim ngạch xuất khẩu tôm năm 2025 của Ấn Độ đạt gần 800 nghìn tấn, cao hơn 9% so cùng kỳ năm 2024.
Tuy nhiên, chiếc chìa khóa thành công của Ấn Độ không chỉ nằm ở đa dạng hóa thị trường. Chuỗi cung ứng thức ăn cho thủy sản được thiết kế để người nuôi có thể đa dạng hóa các loại tôm, tạo ra cơ hội thị trường cao hơn và khả năng phục hồi tốt hơn.
Đối với Việt Nam, theo các chuyên gia, năng lực cạnh tranh nằm ở khâu chế biến. Các sản phẩm đã qua chế biến chiếm phần lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Việt Nam nhập khẩu một lượng lớn tôm từ Ấn Độ hay Ecuador để chế biến và tái xuất.
Thị trường nội địa được đánh giá là một vùng đệm quan trọng cho các nhà sản xuất và chế biến tôm. Theo ước tính của một chuyên gia, nhu cầu tiêu thụ nội địa tại Việt Nam có thể vượt quá 200 nghìn tấn. Nếu khai thác tốt mảng thị phần này, ngành tôm Việt Nam có thể vượt qua sóng gió.
Ngành tôm Ecuador đã chứng kiến sự tăng trưởng liên tục từ năm 2024. Năm 2024, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 1,2 triệu tấn và sau một năm, con số này lên mức 1,39 triệu tấn. Sáu tháng đầu năm 2026, Ecuador đã xuất khẩu 822 nghìn tấn tôm, hướng tới đạt sản lượng xuất khẩu 1,6 triệu tấn cho cả năm.
Đa dạng hóa thị trường là lời giải của tôm Ecuador, dù trong thời điểm hiện tại, Trung Quốc vẫn là thị trường tiêu thụ một nửa tổng kim ngạch tôm xuất khẩu của nước này. Mỹ đã vượt qua Liên minh châu Âu trở thành quốc gia nhập khẩu tôm Ecuador lớn thứ hai thế giới. Nhiều lô hàng tôm Ecuador cũng đến tới các quốc gia châu Á, trong đó, có cả Việt Nam.
Điều đáng nói, đối với ngành tôm Ecuador, mở rộng thị trường song hành với đa dạng sản phẩm, giúp các nhà sản xuất và chế biến gia tăng năng lực ứng phó với những biến động khó lường từ thị trường nhập khẩu.
Khánh Nguyên